Bài viết của một đệ tử Đại Pháp ở Trung Quốc Đại lục

[MINH HUỆ 07-12-2025] Ngày 20 tháng 7 năm 1999 là một ngày bất thường đối với các học viên Pháp Luân Công, và cũng là một ngày bất thường đối với tôi. Ngày hôm ấy, lần đầu tiên tôi nghe đến ba chữ “Pháp Luân Công”, mà những gì tôi tiếp nhận được khi đó đều là thông tin tuyên truyền bôi nhọ từ truyền thông.

Khi đó, tôi không biết làm sao phân biệt đâu là tuyên truyền của tà đảng, nên trong tâm vô thức nảy sinh sự chống đối và bài xích Đại Pháp, thậm chí còn nuôi dưỡng lòng thù hận đối với Pháp Luân Đại Pháp và các đệ tử Đại Pháp. Mối thù hận ấy mãnh liệt và sâu đậm đến lạ thường, như thể bản thân tôi đang mang trong lòng một mối thâm thù đại hận nào đó. Mãi đến nhiều năm sau, khi đọc được những kỳ thư như “Cửu Bình” (Chín bài bình luận về Đảng Cộng sản) và “Mục đích cuối cùng của Chủ nghĩa Cộng sản”, tôi mới hiểu ra rằng sinh mệnh đầy thù hận ấy bắt nguồn từ tà đảng cộng sản, là tà linh Trung Cộng đang tác oai tác quái trong thân thể tôi.

Lặp lại lời dối trá của truyền thông tà đảng, một thẩm phán lập tức lên tiếng ngăn chặn

Năm 2000, do tin theo những tuyên truyền phiến diện của truyền thông, tôi không chỉ nuôi dưỡng lòng thù hận đối với Pháp Luân Đại Pháp, mà còn lớn tiếng lăng mạ Pháp Luân Công và các học viên ngay tại văn phòng, trước mặt nhiều đồng nghiệp và những người đến làm việc. Đó là lần đầu tiên tôi công khai chỉ trích các học viên Pháp Luân Công trong một hoàn cảnh như vậy, và tôi đã bị một vị thẩm phán có mặt tại đó ngăn lại.

Vị thẩm phán ấy hỏi tôi rằng trong gia đình có ai tu luyện Pháp Luân Công không, và tôi có hiểu biết gì về Pháp Luân Công hay không. Ông còn đặt câu hỏi: theo những gì truyền thông chính thức đưa tin, rất nhiều giáo sư đại học đang tu luyện, vậy nếu so sánh tôi với những vị giáo sư ấy thì ai có kinh nghiệm xã hội, thực lực kinh tế và trí tuệ hơn? Tôi trả lời rằng trong gia đình không có ai tu luyện Pháp Luân Công, bản thân tôi cũng không hiểu về Pháp Luân Công; còn so với những vị giáo sư đó thì tôi kém xa, hoàn toàn không thể so sánh. Nghe vậy, vị thẩm phán khuyên tôi rằng: nếu như truyền hình đưa tin có tới 100 triệu người đang tu luyện Pháp Luân Công, nhiều người tu luyện như thế thì pháp môn ấy hẳn phải có những điều tốt đẹp; hơn nữa, những gì truyền hình đưa tin chưa chắc đã hoàn toàn là sự thật, nếu bản thân chưa hiểu rõ thì không nên hùa theo những tuyên truyền của truyền thông.

Mặc dù từ đó về sau, tôi không còn công khai xúc phạm Pháp Luân Công và những người tu luyện trước mặt mọi người nữa, nhưng trong tâm vẫn chưa thể chấp nhận Pháp Luân Công, trong đầu tôi vẫn đầy những lời vu khống phát trên truyền hình. Do những lời dối trá của tà đảng vẫn xâm chiếm tâm trí, khiến tôi chưa từng biết dùng lý trí và nhận thức của bản thân để phân biệt đúng sai trong các thông tin truyền thông, mà chỉ mù quáng tin theo đám đông.

Đọc “Chuyển Pháp Luân”, minh bạch “vụ tự thiêu trên Quảng trường ​Thiên An Môn” là giả mạo

Cuối năm 2003, tôi may mắn được một đồng nghiệp trao cho cuốn “Chuyển Pháp Luân”. Trong quá trình đọc, tôi có cảm giác như đang lắng nghe một bậc trưởng lão từ bi giảng cho tôi những đạo lý làm người, lời lẽ giản dị mà dễ hiểu. Ở tầng thứ nhận thức hiện tại của mình, tôi còn được giảng giải một cách tường tận về Pháp lý của việc sát sinh, từ đó mới hiểu ra rằng sinh mệnh là vô cùng trân quý: không những không được tùy tiện làm tổn hại người khác, mà ngay cả thân thể của chính mình cũng không được tùy tiện làm tổn hại, huống chi là nói đến chuyện tự sát. Chính vào lúc ấy, tôi bỗng minh bạch rằng vụ tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn chỉ là vở kịch dàn dựng, một trò lừa đảo do Trung Cộng dựng lên để vu oan cho Pháp Luân Công — và cuốn “Chuyển Pháp Luân” này chính là bằng chứng:

(1) Chỉ cần là người đã từng đọc sách, bất kể có tu luyện hay không, đều biết rằng Pháp Luân Công nghiêm cấm sát sinh; tự sát hay phá thai đều bị coi là có tội, hơn nữa nghiệp lực tạo ra là vô cùng lớn. Những người ngồi tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn, cho dù trước đây từng tu luyện Pháp Luân Công, thì ngay tại khoảnh khắc họ ngồi trên Quảng trường Thiên An Môn để tham gia “tự thiêu”, thì cũng không còn là học viên Pháp Luân Công nữa rồi. Điều này đã được quy định hết sức rõ ràng trong sách, được viết vô cùng minh bạch.

(2) Tôi chỉ cần xem qua cuốn “Pháp Luân Công”, nhìn vào các hình minh họa động tác kết ấn trong sách là đã có thể thực hiện đúng các động tác như trong hình. Thế nhưng, Vương Tiến Đông trong vụ “tự thiêu” trên Quảng trường Thiên An Môn lại thực hiện sai động tác kết ấn, ngay cả tư thế ngồi song bàn cũng sai. Điều đó chứng tỏ người này không phải là người tu luyện Pháp Luân Công, hơn nữa hoàn toàn không hiểu gì về Pháp Luân Công. Chỉ cần có chút hiểu biết, nếu làm giả, người ta cũng có thể làm cho giống chút. Việc để lộ sai sót lớn như vậy cho thấy đoạn video tự thiêu này đã được thực hiện một cách vội vàng.

(3) Theo quan điểm của tôi, sự vội vàng thể hiện trong đoạn video này còn phản ánh nỗi lo sợ bị người khác phát hiện và ngăn chặn. Vậy ai có thể đứng ra ngăn chặn? Chỉ có lãnh đạo cấp cao của Trung Cộng mới có khả năng ngăn cản sự việc này xảy ra. Điều đó, xét từ một góc độ khác, cho thấy vở kịch “tự thiêu” này đã được một nhóm nhỏ thực hiện trong bối cảnh nội bộ tầng lớp lãnh đạo cao cấp của Trung Cộng không có sự thống nhất ý kiến. Nếu là quyết định của đa số, thì sẽ không xuất hiện tâm lý căng thẳng, không cần phải vội vàng hoàn thành đoạn video này, và càng không để lộ nhiều sơ hở rõ ràng đến như vậy. Điều này đã xác thực những gì các học viên Pháp Luân Công từng nêu: cuộc đàn áp Pháp Luân Công là do Giang Trạch Dân một tay phát động, trong khi nhiều lãnh đạo cấp cao khác của Trung Cộng không tán đồng cuộc đàn áp này.

Khi đã minh bạch rằng vụ tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn là giả mạo, tôi rất buồn: Tại sao trước đây mình lại thiếu lý trí đến như vậy? Truyền hình nói gì thì tin nấy, bản thân cũng chẳng chịu động não suy nghĩ gì cả. Điều nực cười hơn nữa là Pháp Luân Công vốn chưa từng gây tổn hại cho tôi, vậy mà tại sao tôi lại thù ghét Pháp Luân Công và các học viên đến thế?

Hân hoan bước trên con đường tu luyện

Cuốn sách “Chuyển Pháp Luân” đã giúp tôi tìm lại lý trí của chính mình, thay vì mù quáng tin theo người khác. Cuốn sách giúp tôi nhận ra Chân-Thiện-Nhẫn là tiêu chuẩn để đo lường tốt xấu. Đây chính là điều tôi muốn tìm kiếm, mới là nơi trở về chân chính của con người. Trong niềm hân hoan, tôi đã bước trên con đường tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.

Do thói quen tư duy “nghi ngờ mọi thứ” mà tà đảng Trung Cộng cưỡng chế nhồi nhét vào, nên dù đã tiếp thụ và công nhận Đại Pháp, tôi vẫn không tin tưởng các học viên Pháp Luân Công. Tôi cho rằng Đại Pháp là tốt, Sư phụ là tốt, nhưng người tu luyện vẫn là con người; người tu luyện chưa chắc đã làm được tốt như những điều được giảng trong sách. Vì vậy, tôi không muốn tiếp xúc với các học viên Pháp Luân Công tại địa phương, trong tâm luôn bài xích và xa lánh họ, khiến tôi luôn ở trong trạng thái độc tu.

Tuy nhiên, quá trình độc tu đã giúp tôi đích thân trải nghiệm rằng Pháp Luân Công không hề có tổ chức. Khi tà đảng Trung Cộng tuyên bố Pháp Luân Công là một tổ chức, tôi liền biết đó là lời nói dối, là lừa gạt người dân. Tôi tin Pháp Luân Công là tốt và tôi muốn tu luyện; thế nhưng chưa từng có bất kỳ ai lấy danh nghĩa tổ chức Pháp Luân Công tìm đến tôi, cũng không có học viên Pháp Luân Công nào lôi kéo tôi đi làm bất cứ việc gì. Điều này khiến tôi thực sự thể hội được những lời giảng trong sách Pháp Luân Công:

“Tất cả những người luyện Pháp Luân Công đều cũng là thành viên trong xã hội. Mỗi người đều có công tác và sự nghiệp của bản thân.”, “Muốn học thì học, muốn thôi thì thôi; không có danh sách; vậy có “[tôn] giáo” nào đây?” (“Một chút cảm tưởng của tôi”, Tinh Tấn Yếu Chỉ II)

“Quần chúng tự phát học Pháp và luyện công, không có tổ chức, tự nguyện tham gia luyện buổi sáng sớm, bảo trì đặc điểm và thuần khiết.” (“Gửi các học viên tu lâu ở Bắc Kinh”, Tinh Tấn Yếu Chỉ)

Nhận ra tư tưởng cuồng vọng và quan niệm đấu tranh mà tà đảng đã nhồi nhét

Mặc dù tôi đã biết Pháp Luân Đại Pháp là tốt, cũng hiểu rằng vụ tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn là giả mạo nhằm bôi nhọ Pháp Luân Công, biết rằng việc thỉnh nguyện tại Trung Nam Hải bị vu khống thành cuộc bao vây, đồng thời cũng có thể phân tích từ nhiều góc độ những điểm nghi vấn và sơ hở trong vụ tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn, cũng như nêu ra nhiều chi tiết chứng minh rằng hàng vạn học viên Pháp Luân Công đến Trung Nam Hải là để thỉnh nguyện chứ không phải bao vây; thế nhưng, do từ nhỏ đến lớn đều tiếp nhận những lý luận do Trung Cộng nhồi nhét, miệng luôn ngân nga những bài hát của tà đảng, nên thói quen tư duy và nhận thức của tôi từ lâu đã bị định hình trong nội dung và khuôn khổ do Trung Cộng nhồi nhét tẩy não. Bản thân tôi cũng đã sớm đánh mất khả năng tư duy độc lập và nhận thức sự việc một cách lý tính.

Tôi chưa thể nhận rõ từ căn bản rằng tà đảng Trung Cộng là ác ma tà linh hủy diệt nhân loại, chưa thể nhận rõ tà đảng Trung Cộng là tà linh ngoại lai, cũng chưa thể nhận rõ và thấu hiểu được chân tướng các cuộc vận động bức hại kể từ khi Trung Cộng cướp chính quyền, nên cũng chưa thể thực sự minh bạch: Vì sao Trung Cộng lại vô cớ đàn áp một nhóm người tu luyện như Pháp Luân Công? Vì sao phải bôi nhọ Pháp Luân Công? V vì sao sự bôi nhọ và đàn áp ấy lại kéo dài liên tục bao nhiêu năm không ngừng?

Mang theo thói quen tư duy và nhận thức do Trung Cộng nhào nặn, tôi đã không toàn tâm toàn ý tu luyện Phật Pháp — không nghe Sư phụ giảng làm sao để làm một người tu luyện chân chính, phủ định bức hại, chặn đứng bức hại, cũng như cứu độ chúng sinh hữu duyên với Đại Pháp.

Trong suốt 22 năm, do không buông bỏ được tự ngã, tôi đã nhiều lần bị bắt giữ và giam cầm phi pháp: một lần cải tạo lao động, hai lần giam giữ hành chính, và một lần bị kết án tù. Thế nhưng, tất cả những sự việc này không phải vì tôi phạm tội, cũng không phải do tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp dẫn đến, mà là do chính bản thân tôi tự cầu, tự chiêu mời mà đến.

Lần đầu tiên tôi bị cải tạo lao động phi pháp trong một năm. Bề mặt là do cảnh sát an ninh nhà nước bắt cóc tôi, nhưng sự thật là vì tôi không thể chấp nhận việc chồng mình trong suốt thời gian dài ra ngoài tìm phụ nữ, không về nhà, không quan tâm đến gia đình và con cái, lại còn đi rêu rao khắp nơi rằng việc anh ta quan hệ với phụ nữ bên ngoài là do tôi không tốt thế này thế kia. Thậm chí, anh ta còn công khai cặp kè với một người phụ nữ sống cùng tòa nhà, ngay sát cửa nhà tôi, khiến tôi vô cùng xấu hổ và nhục nhã. Kết quả là tôi bị thế lực tà ác ở không gian khác dùi vào sơ hở.

Sau khi kết thúc cải tạo lao động phi pháp và trở về nhà, do tôi không biết cách học Pháp, luôn để tự ngã và sự tự cao tự đại chi phối bản thân, chỉ chọn những phần mình thích để học Pháp, nên học mãi mà vẫn không đắc Pháp. Xét về bản chất, con người tôi hầu như không có thay đổi gì, vẫn tự tư, tự đại, tự cho mình là đúng. Vì không ở trong Pháp, nên tôi không những không kịp thời nhận ra các thủ đoạn bức hại của tà ác, mà trái lại còn luôn bị tà ác dắt mũi đi. Tôi thậm chí còn nảy sinh ý nghĩ muốn đi khắp các trại tạm giam, trại giam và nhà tù, tự biện minh rằng đó là để hiểu rõ bản thân và đối phương, nhằm nhìn rõ thủ đoạn của tà ác, rồi kiện tất cả những người thuộc hệ thống công–kiểm–pháp (công an, viện kiểm sát và tư pháp) tham gia bức hại, buộc họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng trên thực tế, đó là việc coi pháp luật như một công cụ để trừng phạt con người, chứ không phải xem đó là một cơ hội để cứu người.

Trong thời gian này, khi tiếp xúc với các đồng tu địa phương, tôi nhận thấy mọi người thường không thể trình bày rõ ràng các chi tiết về vụ việc bị bức hại; còn tôi thì luôn không thể thu thập được những bằng chứng liên quan đến việc đồng tu bị bức hại.

Một ngày vào năm 2004, tôi vô tình nhìn thấy một bản án hình sự kết tội oan một học viên Pháp Luân Công. Bản án này, từ cách diễn đạt cho đến nội dung, đều bộc lộ những sai sót rõ ràng. Không chỉ những người am hiểu pháp luật, mà ngay cả người dân bình thường tuy không rành luật nhưng hiểu lý lẽ, thậm chí ngay cả người già không biết chữ hay trẻ em, chỉ cần đọc bản án này cho họ nghe, họ đều có thể nhận ra rằng bản án này có vấn đề. Rõ ràng đây là một vụ án oan sai, chỉ cần dựa vào nội dung bản án này thôi cũng đã đủ để chứng thực điều đó. Vậy tại sao lại có thể xuất hiện một chuyện hoang đường như vậy?

Vì vậy, tôi nghĩ: Tôi sẽ đi đến tận các hang ổ đen tối đó một chuyến, tìm cho được bằng chứng về hành vi bức hại của họ, rồi tố cáo họ.

Khi trải qua nhiều ma nạn, thực sự đi qua hết hang ổ đen tối này đến hang ổ đen tối khác, tôi mới nhận ra rằng mình đã sai, sai ngay từ cơ điểm. Bởi lẽ, đằng sau ý định kiện tụng của tôi là tâm tranh đấu. Tâm tranh đấu là một loại tâm mà người tu luyện cần phải loại bỏ. Cơ điểm đúng đắn của đệ tử Đại Pháp phải là tu tốt bản thân mình và từ bi cứu độ thế nhân.

Nhân viên công-kiểm-pháp giảng chân tướng cho tôi

Đối diện với hết lần bức hại này đến lần bức hại khác, Sư phụ đã thông qua lời nói của một số nhân viên công-kiểm-pháp mà không ngừng trực tiếp nhắc nhở tôi rằng: Pháp Luân Đại Pháp hảo. Điều đó cũng khiến tôi được tận mắt chứng kiến rằng chúng sinh đều vì Pháp mà đến, và đều đang tích cực, chủ động phản bức hại.

Ví dụ, vào năm 2004, có một cảnh sát không rõ tên đến đơn vị nơi tôi làm việc để giải quyết công việc. Trong lúc trao đổi, tôi hỏi anh ấy có tham gia bắt giữ các học viên Pháp Luân Công hay không. Anh ấy cho biết công việc của mình chính là làm việc đó. Tôi lại hỏi Pháp Luân Công rốt cuộc như thế nào. Anh ấy trả lời rằng anh đã đọc sách Pháp Luân Công và cũng xem các đĩa CD của Pháp Luân Công; nội dung bên trong thật sự rất tốt. Theo anh, con người ngày nay, cho dù không tu luyện Pháp Luân Công, chỉ cần đọc sách và xem đĩa CD của Pháp Luân Công thì xã hội cũng sẽ ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Những học viên Pháp Luân Công bị bắt kia thật sự rất lương thiện.

Xin nêu thêm một ví dụ nữa. Năm 2005, một bà cụ tu luyện Pháp Luân Công tìm đến tôi, trình bày rằng con trai bà đã chiếm căn nhà của bà và không cho bà ở đó nữa. Bà cụ chỉ yêu cầu con trai ở một phòng, còn mình ở một phòng, và hoàn toàn không muốn nhờ đến pháp luật để đuổi con trai cùng con dâu ra ngoài. Hơn nữa, bà cụ từng mua cho con trai một căn nhà khác, nhưng anh ta lại đem căn nhà đó cho thuê, rồi cưỡng ép sống chung trong căn nhà của bà cụ. Nay anh ta còn yêu cầu bà cụ phải dọn đi.

Tôi đến để hòa giải. Sau khi nghe tôi trình bày lý do đến, con trai và con dâu của bà cụ tỏ thái độ rất không thiện chí, gay gắt nói rằng: chỉ vì bà tu luyện Pháp Luân Công nên họ muốn đuổi bà đi. Hoàn toàn không còn bất kỳ khả năng thương lượng nào.

Tôi đến khu cộng đồng nơi bà cụ sinh sống. Lúc đó, chủ nhiệm cộng đồng và một đồng nghiệp khác có mặt tại văn phòng. Chủ nhiệm cộng đồng rất bất lực nói với tôi rằng: bà cụ đã lớn tuổi như vậy rồi, chỉ mong rèn luyện sức khỏe, ở nhà tu luyện thì cứ để bà tu luyện; thế nhưng con trai bà lại thường xuyên tố cáo bà (với đồn cảnh sát và cộng đồng), đòi bắt bà cụ đi.

Ngay trong quá trình tôi tham gia hòa giải, có một đêm, con trai bà cụ đã dùng băng dính bịt miệng bà, dùng băng dính trói hai chân bà, rồi đặt bà nằm trên một chiếc giường trẻ em. Sau đó, anh ta gọi điện cho cảnh sát đồn công an, yêu cầu họ đến bắt bà cụ đi. Đồn công an cử hai cảnh sát tới. Khi thấy bà cụ bị trói trong tình trạng như vậy, một trong hai cảnh sát lập tức nghiêm khắc quát mắng anh con trai: “Mau dừng ngay việc ngược đãi người cao tuổi! Nếu không, chúng tôi sẽ lập tức bắt anh vì hành vi ngược đãi người già!” Lúc đó, con trai bà cụ mới chịu xé băng dính ra. Khi gặp tôi, anh ta còn bức xúc nói: “Tại sao họ (cảnh sát đồn công an) lại không bắt bà cụ đi?”

Con trai bà cụ ngày nào cũng mở loa phát các nội dung vu khống Đại Pháp cho bà nghe, còn thực hiện đủ loại hành vi ngược đãi bà ngay trong chính ngôi nhà của bà, thậm chí còn khóa trái cửa, nhốt bà trong nhà không cho ra ngoài. Bà cụ phải viết một mảnh giấy với dòng chữ “Cứu tôi với” rồi ném từ cửa sổ xuống dưới, hy vọng những người bên dưới có thể giải cứu mình.

Tôi còn đến đồn cảnh sát địa phương phụ trách đơn vị nơi bà cụ từng làm việc và tìm gặp trưởng đồn. Trưởng đồn cho biết con trai và con dâu của bà cụ là một “lớp tẩy não gia đình” do “Phòng 610” cấp tỉnh bố trí ngay tại nhà, nhằm chuyên trách việc tẩy não bà cụ. Khi tôi tìm đến nhân viên trực ban tại phòng bảo vệ trong khu nhà nơi bà cụ sinh sống, người này cho hay họ được phân công giám sát bà cụ hằng ngày; hễ bà cụ vừa ra khỏi cửa là lập tức báo cáo lên trên, và bên ngoài sẽ có người lái xe theo dõi bà.

Vì việc này, tôi tìm đến Chánh án Tòa Dân sự của tòa án để hỏi liệu một vụ việc như vậy có thể được thụ lý hay không, trong trường hợp bà cụ là học viên Pháp Luân Công. Vị chánh án cho biết: nếu không đề cập đến Pháp Luân Công, mà chỉ yêu cầu con trai trả lại nhà, thì vụ kiện này có thể tiến hành được.

Thêm một ví dụ khác, cũng vào năm 2005, tôi tham gia dự thính một phiên tòa xét xử phi pháp một học viên Pháp Luân Công. Hôm đó, cửa phòng xử án được mở toang; bất kỳ ai đến tòa án làm việc đều có thể nhìn thấy toàn bộ diễn biến bên trong phiên tòa, thậm chí còn có thể tự do vào dự thính. Khi đó, có cảnh sát tư pháp ngăn cản những người muốn vào phòng xử án để nghe xét xử, thì lập tức bị chủ tọa phiên tòa ngăn lại. Chủ tọa ra hiệu cho cảnh sát tư pháp rằng ai muốn vào nghe thì cứ vào, không cần ngăn cản.

Trong phiên tòa, học viên Pháp Luân Công bị xét xử phi pháp không biết cách tự bào chữa, lời nói thường thiếu trọng điểm. Vì vậy, chủ tọa phiên tòa đã nhiều lần khéo léo dẫn dắt, khiến toàn bộ quá trình tự bào chữa của học viên Pháp Luân Công dần trở thành một quá trình giúp những người dự thính hiểu rõ chân tướng.

Sư phụ giảng:

“Tôi lại tiết lộ với mọi người một thiên cơ nữa: Kỳ thực, toàn bộ xã hội đều là tu luyện. Điều này trước đây tôi chưa giảng cho chư vị. Vì sao một buổi diễn Shen Yun lại có rất nhiều sinh mệnh từ trong thân thể người xuất ra viên mãn? Kỳ thực con người ở trong xã hội chính là đang tu luyện, lúc ban đầu sáng thế chính là an bài như vậy. Con người ở nơi đây sẽ chịu khổ, hứng chịu đủ loại ma nạn khác nhau, từ trong đó chư vị nhận thức như thế nào, nhìn nhận hết thảy những gì gặp phải ra sao, đi về hướng chính diện hay đi về hướng phụ diện. Đi về hướng phụ diện thì chư vị đang trượt xuống; đi về hướng chính diện, nhận thức chính diện, đồng thời cầu Thần giúp đỡ, hoặc là trong tâm kiên định với chính tín của mình, thì đó chính là tu luyện. Phải vậy không? Vậy thì làm đệ tử Đại Pháp lại càng nên làm tốt việc của chư vị, cho nên mọi người phải trân quý hết thảy những điều này.” (“Giảng Pháp tại Pháp hội truyền thông Đại Kỷ Nguyên và Tân Đường Nhân”)

Khi đó, mọi người không hiểu hoặc không tin những thiên cơ và Pháp lý mà Sư phụ giảng, nhưng nay tất cả đều đang lần lượt ứng nghiệm.

(Còn nữa)

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/12/7/503040.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/1/14/232299.html