Nhân duyên kỳ diệu giữa tôi và con trai, may mắn kết được thánh duyên
Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp tại Trung Quốc
[MINH HUỆ 22-01-2026] Tôi là một nữ đệ tử Đại Pháp đắc Pháp năm 1998, năm nay đã 87 tuổi, sống ở vùng ngoại ô.
Tôi có ba người con trai. Con trai cả sau khi tốt nghiệp đại học công tác trong lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp, năm 1994 cháu sang Mỹ làm việc. Một hôm, khi đang đi ăn tại một nhà hàng ở Mỹ, cháu nhìn thấy trên tường có treo bảng giới thiệu về Pháp Luân Công có nguồn gốc từ Trung Quốc nên rất chấn động. Qua tìm hiểu và được người ta nhiệt tình giới thiệu, cháu đã bước vào tu luyện Đại Pháp.
Nhờ trải nghiệm của bản thân trong quá trình tu luyện, cháu cảm thấy Đại Pháp quá đỗi tuyệt vời. Năm 1996, cháu gọi điện cho vợ chồng tôi, vui mừng giới thiệu cho chúng tôi về Pháp Luân Công. Cháu nói Pháp Luân Công là tu luyện Phật Pháp, là Chính Pháp vạn cổ khó gặp, trong xã hội nhân loại thời mạt kiếp hiện nay muốn tìm được Sư phụ Chính Pháp còn khó hơn lên trời. Do đó, cháu cố gắng hết sức khuyên hai vợ chồng già chúng tôi tu luyện. Nhưng lúc đó chúng tôi không hiểu nên đã bỏ lỡ cơ duyên đắc Pháp sớm.
Mãi đến mùa xuân năm 1997, khi trong vùng chúng tôi có điểm luyện công, có vài người bạn đã luyện rồi rủ ông nhà tôi đi luyện. Vì con trai cả thường gọi điện thoại hồng dương Đại Pháp, nên ông ấy từ lâu đã biết đến Pháp Luân Công, liền theo bạn bè đi luyện. Ông ấy là kỹ sư, cả đời dồn hết tâm trí cho sự nghiệp nên mắc đủ thứ bệnh. Sau khi luyện công không lâu, sức khỏe của ông được cải thiện rất nhiều. Ông ấy tu luyện rất nghiêm túc, sáng sớm nào cũng đi luyện công, buổi tối lại đến trạm nghỉ hưu quân đội để nghe băng ghi âm bài giảng Pháp của Sư phụ.
Hồi đó, ngoài làm việc nhà, hễ có thời gian rảnh là tôi lại đi đánh bài, ngày nào cũng đi đến tối mịt mới về. Ông ấy bèn dặn tôi: “Tối nào tôi cũng phải đi nghe Sư phụ giảng Pháp, bà đừng đi đánh bài nữa, nấu cơm tối sớm một chút để tôi ăn xong còn đi nghe giảng.” Tôi luôn tôn trọng ông ấy, thầm nghĩ: Tu luyện thật vĩ đại, mình phải nấu cơm cho ông ấy trước mới được. Thế là chiều nào tôi cũng về sớm, nấu cơm để ông ấy ăn xong đi nghe Pháp.
Thuận theo tự nhiên bước vào tu luyện
Không lâu sau khi tu luyện, ông ấy bị ngã vài lần, nhưng lần nào cũng đều nhờ luyện công mà hồi phục rất nhanh, lại có thể ra điểm luyện công. Về sau ông ấy nhận ra rằng đó đều là Sư phụ đang giúp mình tiêu nghiệp. Một hôm, một đồng tu thấy ông ấy bị ngã, đi lại hơi khó khăn, liền chủ động đề nghị mang giúp chiếc ghế để khi ông mệt thì ngồi xuống nghỉ. Sau khi ông ấy luyện công xong, tôi ra đón và giúp ông mang ghế về nhà.
Vào một buổi sáng mùa xuân năm 1998, khi đi dạo trong công viên ven dòng sông nhỏ, tôi nhìn thấy có hai bà cháu đang đả tọa. Cháu trai chừng 10 tuổi, tôi thấy cậu bé ngồi đả tọa ở đó trông khá thú vị, hỏi thăm thì mới biết họ đang luyện Pháp Luân Công. Pháp Luân Công ư? Ông nhà tôi chẳng phải cũng đang luyện Pháp Luân Công sao?! Thế là tôi cũng ngồi xuống, bắt chước hai bà cháu họ đả tọa.
Sau một thời gian học, hai vợ chồng tôi bắt đầu cùng nhau dậy sớm mỗi ngày để ra quảng trường luyện công. Có rất đông người luyện công tại đó, họ xếp thành từng vòng tròn từ trong ra ngoài. Nhạc luyện công vô cùng du dương, trường luyện công cũng rất thanh bình yên tĩnh, thu hút rất nhiều người đứng xem xung quanh, sau đó cũng có người bước vào tu luyện. Cảnh tượng này đã thôi thúc tôi tinh tấn, hàng ngày tôi đều ngồi đả tọa, ép chân tập song bàn. Chỉ sau một thời gian ngắn, tôi đã có thể ngồi song bàn trong nửa giờ.
Tôi chỉ mới được học qua một năm lớp bổ túc ban đêm, nên trong cuốn sách “Chuyển Pháp Luân” có rất nhiều chữ tôi không biết. Khi học Pháp tập thể, tôi chú ý lắng nghe các đồng tu đọc rồi từ từ ghi nhớ, chữ nào không biết thì hỏi người khác. Dần dần trong nhóm học Pháp, tôi đã có thể đọc theo mọi người.
Mẹ con xa cách may mắn kết được thánh duyên
Vào tháng 5 năm 1999, con trai lớn của tôi về nước với mục đích là để hồng dương Đại Pháp. Cháu chủ yếu chia sẻ với các đồng tu ở quê nhà về tầm quan trọng của việc hồng Pháp, đồng thời khích lệ tôi và ông ấy hãy trân quý Pháp duyên và tu luyện tinh tấn. Lần đó, cháu chỉ ở nhà được 5 ngày rồi vội vã quay lại Mỹ.
Lần đi đó thấm thoắt đã 26 năm. Vì ĐCSTQ bắt đầu cuộc bức hại Pháp Luân Công vào tháng 7 năm 1999, con trai tôi không thể về nước, ngay cả khi cha cháu qua đời, cháu cũng không thể về để nhìn mặt cha lần cuối; cho đến tận hôm nay, mẹ con chúng tôi vẫn chưa từng gặp lại.
Trong khoảng thời gian này, cháu đã gọi điện cho một người bạn học ở huyện bên để bày tỏ nỗi nhớ mẹ, cũng như nỗi khổ tâm không thể về nước vì tín tâm vào Chân-Thiện-Nhẫn. Người bạn này đã đến thăm tôi. Con trai tôi còn một người bạn học khác làm phóng viên, cháu cũng gọi điện cho cậu ấy để bày tỏ nỗi lòng tương tự, và vị phóng viên này cũng đến thăm tôi. Vì hoàn cảnh bức hại lúc bấy giờ rất khốc liệt, nên chúng tôi không thể nói bất cứ điều gì liên quan tới vấn đề này.
Con trai tôi sống phiêu bạt nơi đất khách quê người, không hiểu trong cuộc sống có gặp khó khăn trở ngại gì không, là một người mẹ, tôi cũng vô cùng nhớ con và lo lắng. Tục ngữ có câu: “Ở nhà nghìn ngày tốt, ra đường một khắc nan”. Dù sao đó cũng là đất nước của người ta. Trong quá trình không ngừng tu luyện đã giúp tôi nhận ra rằng tôi và cháu đời này là mẹ con, nhưng quan trọng hơn, chúng tôi đều là đồng tu, là do thánh duyên gắn kết. Nhờ có sự bảo hộ từ bi của Sư phụ, tôi không cần phải lo lắng bất cứ điều gì.
Một năm, vì đi giảng chân tướng về Pháp Luân Đại Pháp cho người thường tôi đã bị nhân viên Phòng 610 huyện bắt cóc đến lớp tẩy não của tỉnh, và bị cưỡng chế bức hại tẩy não. Phòng 610 còn dựng chuyện thành “trọng án, đại án”, hòng bỏ tù hoặc đưa tôi đi lao động cải tạo phi pháp.
Trước khi tôi bị bắt cóc, chồng tôi đã bị tai nạn xe hơi nằm liệt giường, ngày nào cũng cần tôi chăm sóc. Sau khi tôi bị giam giữ phi pháp, lúc con trai tôi gọi điện cho cha, ông ấy cảm thấy rất cô đơn và bất lực nên đã khóc nấc lên, cháu ở đầu dây bên kia cũng không cầm được nước mắt.
Cháu ở nước ngoài đã ra sức dốc lòng giải cứu tôi, tất tả ngược xuôi giữa New York và Toronto, phối hợp chỉnh thể với các đồng tu ở nước ngoài, tổ chức họp báo trước Lãnh sự quán Trung Quốc để vạch trần việc ĐCSTQ bức hại người tốt. Cháu còn đích thân gọi điện đến cơ quan công an vùng chúng tôi, mạnh mẽ yêu cầu thả người vô điều kiện. Nhiều cơ quan và tổ chức ở nước ngoài cũng lên tiếng mạnh mẽ nhằm kêu gọi chấm dứt cuộc bức hại. Rất nhiều đệ tử Đại Pháp tại Trung Quốc Đại lục cũng dùng nhiều phương thức khác nhau để nỗ lực giải cứu tôi, những người hữu duyên cũng đứng ra yêu cầu thả người. Bốn tháng sau, tôi được trả tự do và trở về nhà.
Con dâu cả của tôi cũng là người tu luyện, hai vợ chồng cháu có ba người con, hai đứa cháu nội nhỏ đến nay tôi vẫn chưa từng gặp mặt. Tôi và gia đình con trai cả dù cách nhau một đại dương nhưng tâm trí luôn hướng về nhau, bởi vì chúng tôi có chung một tâm nguyện: Trợ Sư Chính Pháp, cứu độ chúng sinh.
ĐCSTQ đã không ngừng bức hại Pháp Luân Công suốt 26 năm qua. Từ quê nhà, tôi luôn lặng lẽ chúc cháu dũng cảm bảo vệ Sư phụ và Đại Pháp. Đệ tử Đại Pháp trong và ngoài nước đều cùng học một cuốn sách, cùng luyện một bộ công pháp, chúng ta là một chỉnh thể.
Tôi tin rằng rồi cháu sẽ trở về, tôi phải tu luyện thật tinh tấn, thành kính cung nghênh Sư phụ trở về Trung Quốc Đại lục! Đồng thời đón con về với mình, đến lúc đó mẹ con chúng tôi sẽ lại cùng nhau hàn huyên về đoạn thánh duyên này.
Không nên ỷ lại vào con cháu
Chồng tôi qua đời vì bạo bệnh từ hơn 10 năm trước. Tôi đã sống lủi thủi một mình hơn 10 năm nay. Nhờ sự giúp đỡ và hướng dẫn của các đồng tu, tôi đã mua máy tính, máy in, và học được cách tự làm ra những tài liệu chân tướng tinh xảo, giúp người dân hiểu và minh bạch chân tướng. Không ngày nào tôi chểnh mảng việc này. Dưới sự an bài và gia trì của Sư phụ, rất nhiều người hữu duyên đã minh bạch rằng “Pháp Luân Đại Pháp hảo”.
Vào một ngày tháng 3 năm 2024, tôi đột nhiên cảm thấy toàn thân bủn rủn vô lực, không ăn uống gì được, lúc ở trong nhà vệ sinh ngồi xổm xuống là không thể đứng lên nổi. Tôi liền cầu xin Sư phụ gia trì. Sau khi đứng lên được, tôi vịn tường chầm chậm đi vào phòng rồi nằm bẹp trên giường, cứ nằm ròng rã như vậy mấy ngày liền, cũng không ăn được gì cả.
Đến một hôm, tôi thực sự không trụ nổi nữa đành gọi điện cho cậu con trai thứ hai, nói rằng mẹ đã mấy ngày không ăn gì rồi. Cậu con thứ liền đón tôi đến sống ở phòng chứa đồ nhà cháu (đã được sửa lại như phòng ngủ), các cháu mang cơm từ trên lầu xuống cho tôi ăn, tôi sinh hoạt như vậy một thời gian.
Đến ngày tết Đoan ngọ, gia đình cậu con út cũng đến nhà con thứ để hai nhà đoàn tụ. Buổi trưa, nhà cậu con thứ nấu hơi thiếu cơm, cậu con út liền thuận miệng nói: Bà cụ (chỉ tôi) ăn chẳng được bao nhiêu đâu. Thế là chúng cũng không nấu thêm cơm nữa.
Các cháu nhậu là chính, chủ yếu ăn thức ăn nên cũng không cần nhiều cơm, buổi trưa hôm ấy chúng không mang cơm xuống cho tôi. Đến chiều, chẳng có đứa nào xuống ngó ngàng tới tôi, tôi thấy vậy nghĩ thầm cũng không trông mong gì được ai nữa rồi. Trong dịp Tết cổ truyền mà lại nhận được sự “đối đãi” thế này, trong tâm tôi không khỏi dâng lên chút tủi thân chua xót.
Nhưng rất nhanh sau đó, tôi nhớ ra mình là một người tu luyện, Sư phụ đã giảng:
“Trong tu luyện, dù chư vị gặp phải sự việc hay hay sự việc dở, đó đều là việc tốt cả, bởi vì chính là chư vị tu luyện rồi thì [chúng] mới xuất hiện.” (Tinh Tấn Yếu Chỉ III).
Tôi chợt bừng tỉnh, đây chẳng phải là Sư phụ đang an bài để tôi mau chóng vượt qua ma nạn này sao! Nghĩ vậy, tâm tôi liền trở nên xán lạn, tôi không oán trách các con nữa, mà còn thầm cảm ơn chúng đã thành tựu tôi, giúp tôi nhận ra rằng không nên ỷ lại vào con cháu, việc mau chóng bước ra khỏi ma nạn mới là tốt nhất.
Tối hôm đó tôi đã tự nấu một bữa ăn đơn giản cho mình. Và từ đó, tôi luôn kiên trì tự mình nấu ăn, cố gắng hết mức để không gây thêm phiền phức cho các con.
Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/1/22/498366.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/2/19/232924.html



