Nguồn gốc, diễn biến và sự trở lại của nhã nhạc (Phần 1)
Bài viết của Văn Dĩ Minh
[MINH HUỆ 24-10-2025] “Lễ nhạc” là nền tảng của văn hóa truyền thống Trung Hoa. “Nhạc giả, đức chi hoa dã”, nghĩa là: Nhạc là sự tỏa sáng ra bên ngoài của đức. Nhạc có đủ các ý nghĩa như tu thân dưỡng tính, giáo hóa thiên hạ, thông với đức của Thần linh, hợp với sự hài hòa của trời đất. Trong Lễ Ký có ghi chép: “Các Thánh vương cổ đại chế lễ sáng tác nhạc không phải là để thỏa mãn dục vọng của cái bụng, cái miệng, cái mắt và cái tai của con người, mà là dạy bảo mọi người gây dựng các quan niệm đúng sai, thiện ác đúng đắn, trở về với chính đạo làm người”.
Nguồn gốc nhã nhạc
Hoàng Đế được tôn xưng là “Thủy tổ nhân văn” của Hoa Hạ. Ông đặt ra lịch pháp, trồng trọt ngũ cốc và cây trồng, sáng tạo ra chữ viết, chế tạo thuyền, xe, đặt ra toán học, đặt ra âm luật, sáng lập y học… mở màn cho văn hóa Thần truyền.
Hoàng Đế lệnh cho nhạc quan là Linh Luân đặt ra âm luật. Linh Luân tìm thấy các ống trúc thích hợp ở thung lũng núi Côn Luân, thổi ra các âm thanh, và đặt làm các âm cơ bản, chính là “Cung hoàng chung”. Ông lại chế tạo thành 12 ống có độ dài khác nhau, ứng với 12 luật lữ. Ông còn dùng tiếng hót của phượng hoàng mà ông nghe được để hiệu chỉnh cho chúng. Sau này ông lại đúc ra 12 cái chuông tương ứng, và lấy làm tiêu chuẩn âm nhạc. Đến ngày nay, người ta còn dùng cụm từ “Hoàng chung đại lữ” để hình dung sự chính đại, kỳ diệu và trang nghiêm của âm nhạc và lời văn.
Vào dịp vạn vật hồi sinh, mùa xuân trở lại, Linh Luân chỉ huy diễn một khúc nhạc vũ long trọng. “Hàm Trì” là nơi mặt trời tắm gội, có ý tịnh hóa, thuần khiết. Hoàng Đế đặt tên cho khúc nhạc này là Hàm Trì. Lễ Ký giải thích Hàm Trì rằng, Hàm là tất cả, Trì là thực thi, Hàm Trì là thực thi đức rộng khắp. “Hoàng Đế gọi khúc nhạc là Hàm Trì, là nói thực thi Đạo của thiên hạ. Trời sinh vạn vật, Đất mang chở vạn vật, tất cả đều nhờ Đức thi hành”.
Dùng âm nhạc cảm tạ công lao của Tạo hóa, để kính đức của Trời, đó là nội hàm cơ bản mà nhã nhạc Trung Hoa truyền tải. “Dịch thư” viết rằng: “Tiên vương chế tác nhạc để tôn sùng đức, để dâng lên Thượng Đế, để xứng đáng với tổ tiên”. Như: nhạc của Hoàng Đế là Hàm Trì, nhạc của Chuyên Húc là Thừa vân, nhạc của Nghiêu là Đại chương, nhạc của Thuấn là Thiều nhạc.
Đến thời nhà Chu, Chu Công “chế lễ tác nhạc”, đưa ý nghĩa nhân văn vào các lễ nghi do các tiên vương cổ đại khai sáng, khiến lễ nhạc từ “thông với Thần linh”, diễn biến thành “hài hòa với con người”. “Lễ ký – Nhạc ký” có ghi chép rằng: “Lễ tiết chế cái tâm của con người, nhạc hài hòa với tiếng nói của con người”. Chu Công đã tiến hành lựa chọn cải tạo lễ nhạc của các triều Hạ, Thương, nhấn mạnh “Kính Trời bảo vệ dân”, và “Dĩ đức phối Thiên” (nghĩa là quyền lực của quân chủ là do Trời trao, chỉ người có đức mới thọ nhận được mệnh Trời); và đã hình thành chế độ lễ nhạc nghiêm cẩn, có hệ thống, và trở thành chuẩn mực để hậu thế noi theo.
Sau Chu Công, Khổng Tử giải thích chi tiết và phát huy. Khổng Tử nói: “Người mà không có lòng nhân thì lễ có tác dụng gì? Người mà không có lòng nhân thì nhạc có tác dụng gì?”.
Nếu một người mà trong tâm không có lòng nhân ái, thì về hình thức tuân thủ lễ nghi, diễn tấu lễ nhạc, cũng chẳng có ý nghĩa gì cả.
Khổng Tử cho rằng, âm nhạc tốt là phải “vui mà không thái quá, buồn mà không bi thương”. Lễ nhạc âm thầm lặng lẽ đi vào nội tâm, dẫn dắt con người hướng thiện trước khi phát sinh ra hành vi, từ đó đạt được cảnh giới “Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc” (dùng thơ ca truyền cảm hứng tạo chí hướng cao thượng, dùng lễ nghi quy phạm hành vi, xác lập chỗ đứng trong xã hội, dùng âm nhạc để đạt được nội tâm hài hòa, hoàn thiện nhân cách cao đẹp); và đã mở ra truyền thống nhân văn của dân tộc Trung Hoa.
Chu Công chế ra lễ, Khổng Tử kế thừa giáo hóa. Từ đó, đã đặt ra chế độ lễ nhạc trong suốt hơn 2.000 năm qua. Do dù các triều đại đổi thay, ai lên nắm quyền vũ đài chính trị, cũng đều coi việc kế thừa lễ nhạc là Thiên mệnh, là một sự việc nghiêm túc cẩn trọng, nghiêm túc đối đãi.
Thời Tần Hán, hình thành Đại nhất thông Trung Hoa. Sau khi thống nhất sáu nước, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh thực thi “thư đồng văn”, thống nhất chữ viết toàn quốc, đã cung cấp điều kiện cơ bản để thống nhất và ghi chép văn tự nhã nhạc, khiến cho các nhạc phổ là ca từ của nhã nhạc được nhân sĩ toàn quốc hiểu và truyền hát. Hán Vũ Đế sáng lập cơ quan âm nhạc là Nhạc phủ. Ngoài nhã nhạc (Thái nhạc) ra, cơ quan này còn chuyên phụ trách thu thập các nhạc dân gian và phối nhạc cho nó. Đồng thời thu thập âm nhạc của các dân tộc vùng biên viễn như Tây Vực, Bắc Địch v.v. Mỗi loại văn hóa đều có nguồn gốc rất cao, rất sâu, đều có giai điệu và đặc điểm riêng. Âm nhạc của dân tộc thiểu số và đức âm nhã nhạc của Trung Thổ dung hợp với nhau, làm phong phú âm nhạc Trung Thổ cổ xưa, đồng thời khiến cho âm nhạc của Tây Vực (Hồ nhạc) được nâng cao.
Xã hội cổ đại đã hình thành kết cấu lễ nhạc được hệ thống hóa, có lễ ắt có nhạc, không nhạc không thành lễ. Như tế tự Trời Đất núi sông, tổ tiên, tiên sư, đều dùng nhạc, gọi là “Giao miếu nhạc chương”. Luyện binh tập võ cũng dùng nhạc, gọi là “Cổ xúy khúc”, hoặc “Hoành xúy khúc”, v.v. Từ Chu Tần Hán Đường Tống Nguyên Minh, cho đến cuối triều Thanh, vẫn còn giữ được truyền thống này.
Tử Hạ luận cổ nhạc và tân nhạc
Âm nhạc cũng giống như vạn sự vạn vật ở thế gian, đó là thiện và ác cùng tồn tại, chính diện và phản diện cùng tồn tại, những thứ tốt và những thứ xấu đồng thời tồn tại, để xem con người lựa chọn ra sao.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Ngụy Văn Hầu – quân quân đời thứ nhất của nước Ngụy, chăm chỉ chuyên cần hiếu học, lòng ôm chí lớn. Ông thường phát hiện ra những thiếu sót của bản thân, và nắm lấy cơ hội này để suy nghĩ, tìm tòi.
Tử Hạ là đệ tử của Khổng Tử, là một trong “Khổng môn thập triết” (một trong mười vị hiền triết của Khổng môn). Ngụy Văn Hầu bái Tử Hạ làm thầy, mời Tử Hạ đến nước Ngụy dạy học.
Trong “Sử ký – Nhạc thư” có ghi chép rằng, Ngụy Văn Hầu hỏi Tử Hạ rằng: “Con cung kính nghe cổ nhạc, nhưng lại buồn ngủ, nghe âm nhạc nước Trịnh, nước Vệ thì lại không biết mệt mỏi, việc này là thế nào ạ?”
Tử Hạ trả lời rằng: “Nói chung, cổ nhạc là nhã nhạc từ Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn đến nay, các vị Thánh hiền truyền lại. Tiết tấu cổ nhạc bình hòa mà trang trọng, giàu ngụ ý. Âm thanh cổ nhạc hài hòa, khí thế rộng lớn, huyền bào sênh hoàng, các nhạc cụ đàn, sáo đều nghe tiếng trống tiết chế, bắt đầu bằng đánh trống, kết thúc bằng chũm chọe đồng, tư thế múa nhanh nhẹn, vừa trang nhã lại không thô tục.
“Trong Kinh Thi có nói rằng: ‘Đức âm trang nhã, yên tĩnh, bình yên, và an định, đức của nó có thể chiếu sáng bốn phương, có thể hiền từ bình hòa mà khiến mọi người cảm phục chọn theo cái thiện’. Thường nghe cổ nhạc, có thể tu dưỡng thân tâm, tề gia trị quốc, và khiến thiên hạ bình hòa.
“Âm nhạc nước Trịnh, nước Vệ, bởi vì là âm thanh tà ác, do đó thường làm rối loạn cương thường. Nếu chìm đắm trong đó, không thể tự kéo mình ra được, thì sẽ gái trai lẫn lộn, không phân biệt cha con”.
Văn Hầu lại hỏi: “Con xin hỏi, bản chất của âm nhạc là gì?”
Tử Hạ trả lời rằng: “Thời thượng cổ, trời đất hài hòa, bốn mùa thuận hòa, người dân có đạo đức chất phác, không có thiên tai, và cũng không có nhân họa, tất cả đều phù hợp với thiên thời, vừa vặn thích hợp, đây chính là cái gọi là Đại đồng. Ở xã hội đạo đức cao thượng, Thánh nhân điều hòa ngũ âm, quy chính lục luật, dùng những bài thơ trang nhã đoan chính và những âm thanh ca ngợi để phổ nhạc cho đàn sáo, do đó được gọi là âm của mỹ đức, mà âm của đức thì mới gọi là nhạc”.
“Sử ký – Nhạc thư” có ghi chép rằng “Nhạc là sự hài hòa của trời đất. Lễ là trật tự của trời đất. Hài hòa, cho nên vạn vật đều diễn hóa. Trật tự, cho nên vạn vật đều có sự khác biệt. Nhạc chế tác theo trời, lễ chế định theo đất”. Trong hòa thanh của nhã nhạc, có sự huyền diệu của thiên địa, Tạo hóa, yên tĩnh thể hội, khiến nội tâm con người hợp nhất cùng trời đất.
Văn Hầu nói: “Con xin hỏi âm nhạc mê đắm mà thầy nói đó, nó sinh ra như thế nào?”
Tử Hạ trả lời rằng: “Âm nhạc mê đắm có mấy loại: Âm nhạc nước Trịnh là do thích vi phạm lễ nghi phép tắc, phóng túng, xa hoa, do đó dễ khiến tâm ý con người mê loạn. Âm nhạc nước Tống là do chìm đắm trong nữ sắc, mất chí khí sinh ra, do đó nghe mềm yếu, yểu điệu, dễ khiến tâm ý con người chìm đắm, khó mà phấn chấn lên được. Âm nhạc nước Vệ gấp gáp nhịp điệu nhanh, dễ khiến tâm ý con người bồn chồn bất an. Âm nhạc nước Tề là do ngạo mạn tà tịch, khiến tâm chí con người ngạo mạn, phóng túng mà sinh ra, do đó dễ khiến tâm ý con người ngạo mạn, không chịu ước thúc. Bốn loại âm nhạc này có thể nói đều là quá chìm đắm trong sắc tình, là có hại cho đức hạnh, do đó, trong các lễ nghi chính thức, tuyệt đối không được sử dụng chúng”.
“Nhạc thư” đã nói ra quy luật nội tại của âm nhạc. Âm nhạc cổ đại có năm âm giai là cung, thương, giốc, chủy, vũ. “Do đó, nghe âm cung khiến cái tâm con người ôn hòa thư thái và rộng lớn; nghe âm giốc khiến cái tâm con người trắc ẩn và yêu thương con người; nghe âm chủy khiến cái tâm con người vui làm việc thiện, bố thí; nghe âm vũ khiến cái tâm con người ngay ngắn và thích lễ nghi. Lễ là từ bên ngoài vào, nhạc là từ nội tâm ra. Do đó người quân tử không được rời xa lễ trong chốc lát, rời xa lễ trong chốc lát là khiến hành vi thô bạo, ngạo mạn sinh ra bên ngoài. Người quân tử không được rời xa nhạc trong chốc lát, rời xa nhạc trong chốc lát là khiến hành vi gian tà sinh ra bên trong. Do đó, âm nhạc là người quân tử dùng để dưỡng nghĩa. Xưa, thiên tử, chư hầu nghe tiếng chuông khánh, âm thanh không lúc nào không ngân nga điện đường, khanh đại phu nghe tiếng đàn cầm sắt, âm thanh không lúc nào không réo rắt phía trước, do đó nuôi dưỡng hành nghĩa và phòng dâm dật”. Mỗi một âm giai trong cung thương giốc chủy, đều có thể khiến con người từ các góc độ khác nhau, cảm thụ được bầu không khí lễ nghi. Nhã nhạc có thể hàm dưỡng nhân nghĩa, do đó, thiên tử, chư hầu thời cổ đại lắng nghe nhã nhạc, nhã nhạc không rời thân.
Ngụy Văn Hầu cảm thấy Tử Hạ nói rất có đạo lý, và đã tránh xa âm nhạc nước Trịnh, và thường lắng nghe nhã nhạc. Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, Ngụy Văn Hầu khiêm tốn lễ hiền đãi sĩ, lựa chọn trọng dụng người hiền năn, kẻ sĩ hiền minh trong thiên hạ đã tới tấp tìm đến nước Ngụy.
(Còn tiếp)
Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/10/24/501801.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2025/11/19/231372.html


