Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở bờ Tây Canada

[MINH HUỆ 03-09-2026] Con kính chào Sư phụ tôn kính! Chào các đồng tu!

Đầu năm 1999, tôi may mắn có được các sách Đại Pháp. Tuy nhiên, để thực sự đắc Pháp và hiểu được bản thân cần đối đãi với tu luyện như thế nào, tôi đã trải qua một quá trình rất dài.

Hôm nay, tôi xin chia sẻ trải nghiệm tu luyện của bản thân từ ba phương diện để báo cáo lên Sư phụ và giao lưu cùng các đồng tu. Nếu có điều gì không phù hợp với Pháp, kính mong các đồng tu từ bi chỉ chỉnh.

Tìm ra chấp trước căn bản

Về vấn đề nhận rõ chấp trước căn bản, đối với tôi đó là một quá trình từng bước nhận thức. Ban đầu, tôi cho rằng chấp trước căn bản của mình là trừ bệnh khỏe thân, bởi vì thời điểm người bạn tặng tôi các cuốn sách Đại Pháp đúng là lúc sức khỏe của tôi rất kém. Chỉ sau vài tháng đọc sách, thân thể tôi quả thực đã trải qua những thay đổi to lớn.

Sư phụ giảng:

“Sau khi tu luyện một [giai] đoạn thời gian rồi, thì phải chăng vẫn còn là những suy nghĩ ban đầu, phải chăng là cái tâm ấy của con người vẫn lưu bản thân tại đó? Nếu như thế, thì không thể tính là đệ tử của tôi; chính vì tâm chấp trước căn bản kia chưa vứt bỏ, không thể ngay từ Pháp mà nhận thức Pháp. Những gì bị đào thải trong khảo nghiệm tà ác mà Đại Pháp tại Trung Quốc gặp phải đều là những ai chưa bỏ được tâm chấp trước như thế, đồng thời cũng gây ra một số ảnh hưởng phản diện.” (Tiến đến viên mãn, Tinh Tấn Yếu Chỉ II)

Tôi tự hỏi: liệu có phải mình ở đây là vì muốn có được thân thể khỏe mạnh không? Không phải vậy. Sau khi từ trong Pháp minh bạch được căn nguyên của bệnh tật và ý nghĩa chân chính của đời người, tôi đã buông bỏ chấp trước truy cầu sức khỏe.

Một hôm, tôi đọc một bài chia sẻ trên trang web Minh Huệ, trong đó một đồng tu chia sẻ rằng phần nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất, khiến bản thân tán đồng nhất trong lần đầu tiên đọc cuốn Chuyển Pháp Luânthì ở đó có thể ẩn chứa chấp trước căn bản. Tôi lập tức nhớ lại lần đầu tiên đọc sách, phần khiến tôi lay động sâu sắc nhất là phần Sư phụ giảng về văn minh tiền sử. Khi đọc đến đó, tôi cảm thấy rất phấn khích, cảm thấy cuốn sách đã cho tôi lời giải toàn vẹn và thấu triệt nhất.

Bởi từ thời học đại học, tôi đã hứng thú với văn hóa tiền sử và suy ngẫm về nguồn gốc và ý nghĩa của sinh mệnh. Tôi chẳng đúng như trường hợp Sư phụ giảng sao: “Có người cho rằng Đại Pháp phù hợp với quan niệm khoa học của mình …”? (Tiến đến viên mãn, Tinh Tấn Yếu Chỉ II)

Là vì trước hết tôi tán đồng với quan niệm khoa học đó nên mới tin lời giảng của Sư phụ. Hóa ra chấp trước vào khoa học thực chất lại là chấp trước căn bản của tôi! Suốt nhiều năm, chấp trước này len lỏi vào mọi phương diện trong tu luyện của tôi. Khi thị lực giảm sút, tôi liền liên tưởng đến cách giải thích của khoa học. Khi bị tiêu chảy, tôi lập tức nhớ lại xem hôm đó mình đã ăn gì. Lối tư duy vô thần và việc không thể một trăm phần trăm tín Sư tín Pháp cũng đều liên quan đến chấp trước vào khoa học.

Tuy nhiên, nhận ra chấp trước căn bản mới chỉ là bước đầu. Then chốt là cần trong khi không ngừng học Pháp tu luyện, mà nỗ lực hơn nữa để phân rõ và trừ bỏ những quan niệm này—tách biệt nhân tố khoa học ra khỏi chân ngã của mình, thuần tịnh bản thân, mới có thể bước đi tốt hơn trên con đường phản bổn quy chân.

Một hôm, chồng tôi (chưa tu luyện), hỏi tôi: “Đối với những vấn đề lớn, em có vẻ rất lạc quan và đầy tin tưởng vào tương lai. Nhưng với những khó khăn ngay trước mắt—như thích nghi với hoàn cảnh mới, rào cản ngôn ngữ,…, em lại thấy như gặp phải chuyện tày đình. Những việc ấy lẽ nào còn khó hơn việc tu thành Phật sao?” Lời nói của anh ấy khiến tôi chấn động. Anh ấy còn chưa tu luyện sao có thể nói ra những lời như vậy? Đây rõ ràng là Sư phụ mượn lời của anh ấy để điểm hóa cho tôi. Tôi biết lời nói của anh ấy đã chạm đến thứ gì đó căn bản trong tu luyện của mình. Vì sao tôi tu luyện? Tại sao tôi lại sợ chịu khổ?

Rốt cuộc tôi đang hướng tới điều gì? Rất nhiều trải nghiệm thời đi học đã khiến tôi cảm thấy những phấn đấu trong cuộc đời chẳng có ý nghĩa. Tôi chán ghét cảnh người ta tranh danh đoạt lợi, và ngay cả trước khi tu luyện, tôi đã muốn sống cuộc sống thanh tĩnh, tự tại. Khi bắt đầu đi làm, tôi không muốn tham gia các cuộc thi giảng dạy, cũng chẳng muốn phải hao tâm tổn sức để xét chức danh nghề nghiệp. Sau khi tu luyện, tôi càng cảm thấy mình đúng, không màng danh lợi mà. Thế nhưng đằng sau sự xem nhẹ ở bề mặt ấy lại ẩn giấu chấp trước căn bản: lợi dụng tu luyện để trốn tránh phiền não thế tục, mưu cầu cuộc sống giản đơn, tự tại mà bản thân mong muốn. Thực chất, tư tưởng cũng không thoát khỏi người thường. Về căn bản mà nói, tu luyện của tôi là vì muốn giải thoát chính mình; xuất phát điểm là lợi ích tự ngã.

Chính vì chấp trước vào việc tìm kiếm cuộc sống lý tưởng thông qua Đại Pháp, nên việc tu luyện của tôi thường biểu hiện thế này: khi hoàn cảnh khách quan phù hợp với tôi, tôi tu luyện tinh tấn và tích cực; còn khi không phù hợp với tôi, tôi trở nên lo âu và tiêu trầm. Đối diện với khó khăn, tôi sợ khổ, sợ mệt, càng thiếu đi sự thong dong và lạc quan cần có của một người tu luyện. Chấp trước tìm “chốn bồng lai tiên cảnh” trong Đại Pháp ấy mới là chấp trước lớn nhất, căn bản nhất của tôi! Nhìn rõ chấp trước căn bản này, tôi tự nhắc nhở bản thân nhất định phải loại bỏ chấp trước bắt nguồn từ tự ngã. Đệ tử Đại Pháp tu tốt bản thân là để trợ Sư cứu người tốt hơn nữa. Chỉ có loại bỏ chấp trước vào tự ngã, mới có thể tu xuất Chân-Thiện-Nhẫn.

Đứng trên cơ điểm tu luyện Chính Pháp tu khứ chấp trước vào con cái 

Năm 2011, trước sự quấy nhiễu liên tục từ các nhân viên của tà đảng, chồng tôi đã đưa tôi cùng con trai vừa vào trung học rời khỏi Trung Quốc. Con trai tôi và tôi đã trải qua 13 năm sống trong thân phận tị nạn, còn chồng tôi vẫn ở Trung Quốc. Cảm giác phiêu bạt nơi xứ người, và quãng thời gian dài hai mẹ con nương tựa nhau khiến tình cảm, sự lệ thuộc của tôi vào con trai càng thêm sâu nặng. Con trai tôi hiền hòa, thấu hiểu hoàn cảnh của chúng tôi và không có sự nổi loạn thường thấy ở tuổi dậy thì.

Bất tri bất giác, cái tâm muốn kiểm soát cuộc sống của con trong tôi ngày càng mạnh mẽ. Từ việc tu luyện đến học tập, từ công việc đến các mối quan hệ bạn bè, tôi đều muốn can thiệp. Thế nhưng lúc đó, tôi hoàn toàn không nhận ra đó là tình và chấp trước, còn cảm thấy đó là trách nhiệm của một người mẹ. Tôi nghĩ hai mẹ con phiêu bạt ở nước ngoài thì tương lai của con và tôi đương nhiên phải gắn chặt với nhau, coi mong muốn này là chuyện đương nhiên.

Một đồng tu từng nói đùa: “Con trai chị là cây gậy đắc lực nhất của chị.” Nghe vậy tôi còn thấy rất vui, hoàn toàn không xem đó là lời nhắc nhở rằng, làm một người tu luyện, tôi đã phụ thuộc quá nhiều vào con rồi.

Cuối cùng, việc tái định cư của chúng tôi đã xảy ra tình huống mà trước nay chưa từng có: con trai tôi phải chuyển đến Úc, còn tôi đến Canada.

Kể từ khi ĐCSTQ bắt đầu cuộc bức hại Pháp Luân Đại Pháp, nhiều học viên ở Malaysia đã nộp đơn lên Liên Hợp Quốc để xin tị nạn. Hầu hết các thành viên trong gia đình cuối cùng đều được định cư ở cùng một quốc gia. Nhưng con trai tôi và tôi lại đến hai quốc gia khác nhau—điều này cực kỳ hiếm gặp—lại còn cách nhau hàng vạn dặm.

Trong một thời gian dài, tôi cảm thấy như trái tim mình bị xé nát. Tôi không thể chấp nhận hiện thực này. Tôi đau khổ, oán hận chồng vừa thuyết phục vừa dùng áp lực để buộc tôi rời khỏi Trung Quốc, lại trách con trai đã không tận dụng tốt cơ hội. Đôi khi tôi không muốn làm gì cả, chỉ muốn trùm chăn ngủ. Tôi đã phải vật lộn với những cảm xúc khó chịu đó trong một thời gian dài rồi mới từ từ gượng dậy và bước tiếp.

Lý trí mách bảo tôi rằng hết thảy những điều này đều không tách rời việc tu luyện của tôi. Nhìn qua thì là một quyết định hoặc một thời cơ nào đó đã dẫn đến kết quả trớ trêu này. Nhưng là người tu luyện, trong tâm tôi rất minh bạch rằng không có gì là ngẫu nhiên cả. Khi mọi chuyện đi đến bước này, tôi dường như mới bừng tỉnh trong đau khổ, giống như xem lại một bộ phim mà từ đó nhìn lại những vấn đề của bản thân. Có một điều không thể nghi ngờ rằng: tôi đã đặt con trai ở một vị trí quá quan trọng trong cuộc sống của mình.

Tôi muốn cháu không bao giờ rời xa tôi; tôi muốn cháu mãi là “chỗ dựa” của mình. Vì chấp trước này mà tôi đã gặp phải vô số khảo nghiệm về tâm tính, vì cái tình này mà tôi đã lãng phí rất nhiều thời gian mà lẽ ra phải dùng để cứu người. Sau nhiều lần kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, trong tâm tôi thầm thưa với Sư phụ: “Thưa Sư phụ, con không muốn lại bị cái tình chi phối nữa. Con muốn theo Sư phụ trở về nhà. Xin Sư phụ gia trì cho đệ tử loại bỏ cái tình với con cái.”

Sau mỗi lần tôi cầu xin Sư phụ, cái tình ấy lại phai nhạt đi đôi chút, cảm thấy khá hơn một chút. Nhưng không lâu sau, nó lại quay trở lại. Giờ nhìn lại, vì sao tôi lại khó dứt bỏ đến thế? Bởi xuất phát điểm của việc loại bỏ chấp trước vẫn là vị tư, muốn giải thoát bản thân khỏi phiền não, mọi thứ đều xuất phát từ góc độ bảo vệ lợi ích cá nhân.

Một đồng tu đã chia sẻ rằng, khi gặp vấn đề, nếu không đứng tại cơ điểm tu luyện Chính Pháp, chỉ vì để loại bỏ tâm nào đó mà loại bỏ, thì một cách không tự biết sẽ rơi vào tu luyện cá nhân. Nếu cơ điểm là vị tư, cựu thế lực sẽ mượn cớ mà gây khó nạn cho chúng ta. Đúng vậy! Suốt bao năm qua, trong vấn đề của tôi với con trai, chẳng phải xuyên suốt đều là chữ “tư” sao? “Con trai tôi”; “tôi muốn con thế này”; “tôi muốn con đạt được nguyện vọng của tôi”; “tôi muốn tu bỏ cái tình với con cái”… Tất cả đều bắt đầu bằng chữ “tôi”!

Nhưng thân phận chân chính của mình là gì? Là một người mẹ sao? Không phải. Tôi trước hết là đệ tử Đại Pháp, hơn nữa còn là đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp. Tôi tự hỏi: khi bị chấp trước vào con cái phiền nhiễu đến mức không thể học Pháp, phát chính niệm thì tâm trí náo loạn, giảng chân tướng cũng không muốn giảng nữa, thì Sư phụ vất vả khổ độ mình sẽ cảm thấy thế nào? Những sinh mệnh từng đặt kỳ vọng to lớn vào mình rồi sẽ ra sao? Mỗi khi lý trí thanh tỉnh, tôi đã liên tục tự hỏi bản thân như vậy, trong tâm hết lần này đến lần khác tự nhủ: “Mình là đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp. Mình là đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp.” Sau đó, tôi liên tục nhẩm lại lời giảng của Sư phụ:

“Giảng chân tướng, cứu chúng sinh, đó chính là điều chư vị cần làm, trừ đó ra thì không có điều chư vị cần làm, trên thế gian này không có điều chư vị cần làm.” (Giảng Pháp tại Pháp hội New York 2015)

Dần dần, lớp vật chất tình dầy nặng yếu đi; nỗi đắng lòng mỗi khi nghĩ đến con cũng vơi bớt qua từng lần. Trong tâm tôi minh bạch được rằng, mỗi khi tôi tự vấn bản thân, đó là chân ngã đang nhìn rõ cái giả ngã bị bao bọc bởi tình. Tôi muốn bài xích nó, không cần nó, và Sư phụ đang giúp tôi. Như bóc từng lớp vỏ, mỗi lần như vậy nó lại yếu đi một chút. Giờ đây nhìn lại, tôi ngày càng hiểu rõ vai trò của mình, càng minh tỏ rằng rằng cơ điểm của việc loại bỏ chấp trước không phải là vì bản thân, mà là vì sự đắc cứu của chúng sinh.

Thể hội về “chúng sinh thời mạt hậu cứu nhau”

Sư phụ giảng:

“Không được tưởng rằng chư vị giảng chân tướng rồi, tham gia các hoạt động Đại Pháp rồi, tham gia hạng mục Đại Pháp rồi, thì là chư vị đã làm gì đó cho Đại Pháp, cho Sư phụ. Mà đó là Sư phụ bảo chư vị cứu trợ lẫn nhau, cùng lúc cứu người mà đồng thời độ chính mình, đó là chúng sinh thời mạt hậu cứu nhau.” (Viễn ly hiểm ác)

Dưới đây, tôi muốn chia sẻ một vài câu chuyện nhỏ và thể hội cá nhân của tôi về đoạn Pháp này.

Sự thật thì có gì mà không thể nói chứ?

Một lần khi còn ở Trung Quốc, khi đang đi taxi, tôi nhìn thấy một tấm bùa hộ mệnh Đại Pháp treo trên gương chiếu hậu của tài xế. Đó là khoảng năm 2006, khi cuộc bức hại đang diễn ra rất khốc liệt. Tôi hỏi anh ấy: “Anh dám treo cái đó lên sao?”

Không ngờ, anh ấy nói rất khí phách: “Người thân tôi tu luyện môn này. Anh ấy bị cận thị nặng, nhưng chỉ sau vài ngày luyện công mà không cần đeo kính nữa. Điều này vượt ngoài khoa học—không tin không được!” Tôi khen anh ấy có dũng khí, dám nói những điều như vậy, nhưng anh ấy chỉ bình thản đáp: “Tôi nói sự thật mà. Sự thật thì có gì mà không thể nói chứ? Gặp ai tôi cũng sẽ nói.”

Trải nghiệm này khiến tôi vô cùng xúc động. Logic của người tài xế rất đơn giản: điều nói ra là chuyện thực sự xảy ra, nói sự thật thì có gì phải sợ chứ? Khi đó tôi giảng chân tướng vẫn còn rụt rè và lo sợ. Sư phụ đã an bài cho tôi thấy một người bình thường không chút sợ hãi, thúc giục tôi tu bỏ tâm sợ hãi và quan niệm người thường.

Chồng tôi cũng bị vô cùng chấn động. Sau khi xuống xe, anh ấy lặng lẽ bước đi mà không nói một lời. Trước đó, nếu nghe thấy tôi nói với người khác về Pháp Luân Đại Pháp thì kiểu gì anh ấy cũng nổi giận. Chính khí của người tài xế đã làm vơi đi nỗi sợ hãi của anh đối với tà đảng.

Sư phụ đã liên tục an bài các cơ hội để chồng tôi và tôi nghe được những phản hồi tích cực của thế nhân về Pháp Luân Đại Pháp, gồm cả các cảnh sát. Tất cả những điều này đã khích lệ tôi, tiếp thêm động lực cho tôi trên con đường tu luyện càng bước càng thản đãng. Còn chồng tôi, sau mỗi trải nghiệm như vậy, anh lại thay đổi một chút. Từ chỗ trước đây luôn từ chối nghe chân tướng đến chỗ nguyện ý cùng tôi đến giải thích với giáo viên của con trai tại sao cháu không gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong.

Thời đại học, anh ấy là người đầu tiên trong lớp vào đảng. Từ chỗ chủ động gia nhập tà đảng đến sau này thoái đảng, tất cả đều là nhờ sự an bài từ bi của Sư phụ vĩ đại, thế nhân cứ nối tiếp nhau truyền chân tướng cho anh ấy, tựa như một cuộc chạy tiếp sức vậy. Con xin tạ ơn Sư phụ. Và cảm ơn những chúng sinh đáng quý đó.

Tôi sẽ tiếp bước các bạn

Khi ở nước ngoài, tôi gọi điện thoại giảng chân tướng cho người dân ở Trung Quốc. Một hôm, trong cuộc gọi một người đàn ông đã cảm ơn tôi. Tôi nói: “Ông có thiện căn nên hiểu được chúng tôi làm vậy là vì muốn tốt cho ông”. Ông ấy rất xúc động, nói: “Tôi không chỉ biết các chị muốn tốt cho chúng tôi, mà tôi còn muốn học theo các chị. Các chị làm những việc này không phải vì bản thân mình, mà là vì đất nước này, vì dân tộc này. Sự phó xuất của các chị sẽ giúp nhiều người thức tỉnh và theo chân các chị.”

Tôi cảm ơn sự thấu hiểu của ông. Ông ấy nói: “Các chị là những ngọn hải đăng dẫn đường. Tôi sẽ đi theo sau và tiếp bước các chị.” Ông ấy nói thêm: “Các chị đã thức tỉnh rất nhiều người rồi. Đừng ghét bỏ những người không hiểu các chị. Sự kiên trì của các chị sẽ thức tỉnh họ. Tôi tin dân tộc chúng ta sẽ có hy vọng, bởi vì có các chị dẫn đường phía trước.”

Chúng tôi đã trò chuyện hơn một tiếng đồng hồ. Tôi vô cùng xúc động trước sự chính nghĩa và vô tư của người đàn ông Trung Quốc bình thường này sau khi đã minh bạch chân tướng. Trong suốt cuộc trò chuyện, ông ấy chưa bao giờ đề cập đến bản thân mình hay than phiền về xã hội. Ngay cả khi nói đến những lời dối trá và tội ác của tà đảng, ông ấy cũng không phẫn nộ mà vẫn giữ ngữ khí ôn hòa. Ông ấy đang nghĩ cho dân tộc này, nghĩ cho những đồng bào còn chưa thức tỉnh. Trong lời nói của ông chứa đầy sự thấu hiểu và trân quý đối với họ.

Tôi cảm thán rằng: Không phải tôi đang giảng chân tướng cho chúng sinh, mà là Sư phụ đang mượn lời của chúng sinh để khải thị cho tôi. Chân tướng thực sự chạm đến lòng người không phải là nhờ lời nói, mà đến một cách tự nhiên nhờ cảnh giới thuần thiện và vị tha tu xuất được. Bình thường, tôi vẫn hay nóng vội và bất mãn. Sư phụ đã an bài để tôi gặp sinh mệnh này, giúp tôi thấy những điều mình cần tu bỏ. Đồng thời, sự khen ngợi và kỳ vọng của chúng sinh đối với đệ tử Đại Pháp cũng khích lệ tôi không quên sứ mệnh.

Những học viên năm xưa thấy được chân tướng

Tại các điểm du lịch, thỉnh thoảng chúng tôi gặp những người trước đây đã từng tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Khi thấy Pháp Luân Công ở đó, biểu cảm của họ rất đa dạng—người thì kinh ngạc, người thì xúc động, người thì nghi hoặc. Có người tìm cách tách khỏi đoàn du lịch để đến trò chuyện với chúng tôi. Họ đã ngừng tu luyện vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng sâu thẳm trong tâm họ, gốc rễ của Đại Pháp vẫn còn đó. Có người nhìn chằm chằm vào các bảng trưng bày chân tướng, cắn chặt môi để không bật khóc. Tôi không bao giờ quên những vẻ mặt ấy. Những gì nhìn thấy nơi họ càng nhắc tôi phải trân quý môi trường tự do tu luyện ở nước ngoài.

Một phụ nữ kể với tôi rằng cô và mẹ cô đã tu luyện Đại Pháp trước năm 1999, nhưng sau khi cuộc bức hại bắt đầu, họ không dám tiếp tục nữa. Họ sống ở một vùng hẻo lánh và không gặp lại các học viên khác, nên họ tưởng rằng Pháp Luân Công biến mất hoàn toàn rồi. Khi nhìn những tài liệu trên tay tôi, mắt cô ấy đỏ hoe. Cô hỏi tôi làm thế nào để tìm được các học viên ở Trung Quốc. Sau đó, một người đàn ông đến kéo cô ấy đi. Chân cô bước đi theo nhưng đầu vẫn ngoái lại về phía chúng tôi, ánh mắt lưu luyến nhìn mãi. Ngay cả khi cô ấy đã đi xa, tôi vẫn thấy mắt cô ngấn lệ.

Lúc đó, tôi nghĩ: “Có lẽ Sư phụ đã an bài cho những học viên này ra nước ngoài để nhìn thấy các đệ tử Đại Pháp giảng chân tướng tại các điểm du lịch, mở đường cho họ quay trở lại tu luyện.” Ánh mắt khao khát của họ khi nhìn thấy chân tướng Đại Pháp, và mong muốn quay trở lại con đường tu luyện của họ, cũng củng cố quyết tâm tiếp tục đến các điểm du lịch của tôi.

Còn rất nhiều cảnh tượng cảm động khác như: tài xế xe buýt du lịch dúi chai nước vào tay tôi; người nhà của đồng tu ở Trung Quốc nắm tay tôi chực khóc; có trường hợp thì người mẹ đẩy tôi ra, nhưng người con trai lại lặng lẽ quay lại tìm tôi để làm tam thoái. Từng gương mặt sống động ấy khắc sâu trong ký ức và trong tim tôi, trở thành động lực thúc đẩy tôi tiến bước trên con đường tu luyện.

Vào những lúc giải đãi, khi không vượt qua được quan tâm tính và cảm thấy không muốn làm gì, tôi hiểu rõ sự tiêu trầm của mình có thể can nhiễu đến an bài của Sư phụ, và tôi có thể mất đi cơ hội gặp một sinh mệnh đáng quý cần được cứu độ. Biết bao lần, sau khi đấu tranh tư tưởng xem có nên đến điểm giảng chân tướng hay không, nghĩ đến những cuộc gặp gỡ có lẽ chỉ đến một lần ấy, tôi lại tự thúc bản thân phải bước ra khỏi nhà.

Điều thực sự kỳ diệu là khi tôi đến các điểm du lịch trong trạng thái này—thậm chí đôi khi ngay trên đường đi—tôi thường gặp được những chúng sinh đặc biệt hữu duyên. Có người chưa từng nghe chân tướng về Đại Pháp, có người rất muốn tìm hiểu, có người thậm chí còn nói hôm nay họ đến đây chỉ để nghe tôi nói những điều này. Những cuộc “gặp gỡ tình cờ” này như muốn nhắc tôi rằng nếu hôm đó tôi không bước ra ngoài, tôi đã bỏ lỡ cơ duyên gặp họ. Những trải nghiệm như vậy thật phi thường và chấn động.

Tôi hiểu, không có gì là ngẫu nhiên. Khi thấy tôi bị nhân tâm níu kéo, mắc kẹt trong vòng nhỏ hẹp của chấp trước vào được mất của bản thân, vào những thời điểm then chốt, chính Sư phụ đã an bài những sinh mệnh ấy đến để thức tỉnh tôi.

Những cảnh tượng này đã giúp tôi tìm lại trách nhiệm của mình, thúc đẩy tôi, kiên trì suốt tám năm qua tại các điểm du lịch dưới cái nắng gay gắt của Malaysia.

Nếu không có sự chỉ dẫn của Đại Pháp, tôi đã không thể kiên trì được như vậy. Nếu không tận mắt cảm nhận niềm vui khi một sinh mệnh được đắc cứu, thì một người vốn sợ khổ như tôi sẽ rất khó để kiên trì ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.

Khi đọc kinh văn “Viễn ly hiểm ác” của Sư phụ, tôi có thêm được một tầng lý giải về lời giảng của Sư phụ rằng chúng sinh thời mạt hậu cứu nhau: khi chúng ta nói cho chúng sinh biết chân tướng, chúng sinh cũng giúp chúng ta rất nhiều. Ngay cả những người phản đối chúng ta cũng đều đang thành tựu chúng ta, những gì chúng ta đắc được trong tu luyện vượt xa phó xuất của bản thân.

Sư phụ đã thông qua hết thảy những điều này để giúp các đệ tử kiến lập uy đức, đồng thời an bài cho thế nhân mang đến cơ hội tu luyện cho chúng ta. Đệ tử Đại Pháp và chúng sinh là mối quan hệ cứu giúp lẫn nhau. Vì vậy, tôi tự nhắc nhở bản thân rằng không có lý do gì để mà tự mãn với một chút những việc bản thân đã làm, càng không thể xem nhẹ bất kỳ sinh mệnh nào.

Tôi chỉ có thể mang tấm lòng cảm ân: cảm ân Sư tôn đã trải con đường tu luyện cho đệ tử! Tôi cũng cảm ơn chúng sinh vì tất cả những gì họ đã làm trên con đường này để giúp thành tựu đệ tử Đại Pháp!

Con xin cảm tạ Sư phụ. Cảm ơn các đồng tu. Hợp thập.

(Bài chia sẻ được trình bày tại Pháp hội Vancouver 2026)

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/9/3/513847.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/9/12/235859.html