Tổng hợp 28 trường hợp tử vong tại tỉnh Tứ Xuyên do bị cưỡng bức dùng thuốc
Bài viết của phóng viên Minh Huệ tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc
[MINH HUỆ 18-12-2025] Một trong những thủ đoạn bức hại chính được Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng trong cuộc bức Pháp Luân Công kéo dài 26 năm qua là việc giam giữ các học viên Pháp Luân Công hoàn toàn khỏe mạnh về tinh thần tại bệnh viện tâm thần, nhà tù, trại tạm giam, hoặc trung tâm tẩy não, tại đây họ phải chịu đựng sự tra tấn tàn bạo và bị ép buộc dùng thuốc tâm thần.
Việc cưỡng chế dùng thuốc chủ yếu được thực hiện qua đường tiêm hoặc bức thực, thường đi kèm với sốc điện hoặc trói tứ chi của nạn nhân trong những tư thế vô cùng đau đớn. Hậu quả thật tàn khốc: một số học viên bị mất thị lực hoặc thính lực; một số bị đau đầu dữ dội và kéo dài; những người khác rơi vào trạng thái mê sảng; một số trở nên tàn phế hoàn toàn; và một số đã mất đi sinh mệnh.
Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày 28 trường hợp học viên Pháp Luân Công tại tỉnh Tứ Xuyên đã qua đời do bị cưỡng chế dùng thuốc và/hoặc bị tra tấn về thân thể. Do sự kiểm duyệt nghiêm ngặt ở Trung Quốc, thông tin đưa ra được cho là chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, và mức độ nghiêm trọng thực tế của cuộc bức hại có thể tàn bạo và rộng lớn hơn nhiều so với những gì đã được báo cáo.
Trường hợp 1: Ông Đường Tiểu Thành qua đời sau khi bị giam giữ tại Bệnh viện Tâm thần thành phố Bành Châu
Ông Đường Tiểu Thành, ở thành phố Bành Châu, đã bị bắt vào một đêm tháng 5 năm 2002, sau khi bị tố giác vì dán áp phích Pháp Luân Công. Ông bị đánh đập và đưa đến Bệnh viện Tâm thần thành phố Bành Châu. Tháng 8 năm 2002, ông đã qua đời sau khi được thả khỏi bệnh viện 2 tháng. Khi đó ông 40 tuổi.
Trường hợp 2: Bà Hoàng Lệ Sa qua đời tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Bà Hoàng Lệ Sa
Bà Hoàng Lệ Sa, nguyên trưởng phòng nhân sự của Mỏ than Dương Thôn Phố ở thành phố Nga Mi Sơn, đã bị bắt giữ tại thành phố Thành Đô vào ngày 22 tháng 8 năm 2002, khi đang sống lưu lạc để tránh cuộc bức hại. Bà bị giam giữ tại Trại tạm giam thành phố Thành Đô, và bị bức thực sau khi bà tuyệt thực để phản bức hại.
Đầu tháng 9 năm 2002, bà Hoàng bị chuyển đến Bệnh viện quận Thanh Dương ở Thành Đô, và liên tục bị truyền dịch chứa các loại thuốc không rõ chủng loại. Bà bắt đầu nôn ra máu và còn bị xuất huyết trong hệ tiêu hóa nghiêm trọng. Sau đó vài ngày, bà rơi vào tình trạng hôn mê, và qua đời vào ngày 17 tháng 10 năm 2002. Chỉ vài phút sau, chính quyền đã hỏa táng thi thể bà. Khi đó bà 34 tuổi.
Trường hợp 3: Bà Hồ Hồng Dược qua đời tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Bà Hồ Hồng Dược
Bà Hồ Hồng Dược, 45 tuổi, là nhân viên của Nhà máy Vòi bơm dầu Tân Đô ở tỉnh Tứ Xuyên. Bà mất tích vào ngày 28 tháng 9 năm 2002, và cảnh sát đã thông báo cho nơi làm việc về cái chết của bà vào tháng 11 năm 2002.
Cảnh sát chỉ cho gia đình và nơi làm việc xem một bức ảnh của bà Hồ, và tuyên bố rằng bà đã chết đói. Cả gia đình và chủ lao động đều không được phép nhìn mặt bà. Thi thể bà đã bị hỏa táng trái với ý muốn của gia đình vào ngày 19 tháng 11 năm 2002.
Ngày 23 tháng 11 năm 2002, một cảnh sát của Văn phòng Tổng chỉ huy của Công an Thành Đô đã nói về cái chết của bà Hồ: “Tôi không thể nói về chuyện này. Tôi không muốn phải chịu trách nhiệm.”
Một học viên khác, bị đưa đến Bệnh viện quận Thanh Dương vào ngày 15 tháng 10 năm 2002, đã viết về cuộc gặp gỡ với bà Hồ trong bài viết gửi tới trang Minghui:
“6 ngày sau khi tôi đến đó, có thêm 2 học viên nữa bị đưa tới vào ngày 21 tháng 10. Đó là bà Hồ Hồng Dược và bà Trương Á Linh của Nhà máy Vòi bơm dầu Tân Đô. Mặc dù các cảnh sát không cho phép chúng tôi nói chuyện với nhau, chúng tôi vẫn cố gắng trao đổi đôi lời.“
“Cả hai đều bị bắt giữ trên xe buýt, và đã tuyệt thực hơn 30 ngày để phản đối việc giam giữ phi pháp. Họ vẫn tuyệt thực sau khi đến đó. Các bác sỹ cắm kim truyền dịch cho họ mỗi ngày, khiến họ đi tiểu rất nhiều. Nhưng lính canh không mở cùm chân, khiến họ không còn cách nào khác là phải đi tiểu ngay trên giường. Một y tá, bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền thù hận từ ĐCSTQ, đã la mắng họ thậm tệ. Lính canh còn làm nhục và đánh đập họ. Thời gian trôi qua, y tá không thay ga trải giường mỗi tuần một lần theo lịch nữa. Họ phải ngủ trên những chiếc giường bẩn thỉu và ẩm ướt.”
“Đến đầu tháng 11, họ không thể nói chuyện bình thường và thường lặp đi lặp lại câu hỏi: ‘Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tại sao chúng tôi lại ở đây?’ Trí nhớ của họ đang suy giảm. Rõ ràng là họ đã bị ngược đãi bằng thuốc tâm thần.“
“Ngay cả trong tình trạng đó, cảnh sát Tân Đô vẫn không trả tự do cho họ. Thay vào đó, mỗi người bị kết án 18 tháng lao động cưỡng bức. Tuy nhiên, khi cầm tờ thông báo giam giữ trên tay, họ không thể đọc được, cũng không biết nội dung là gì.”
“Sau hơn 20 ngày trong bệnh viện, do hậu quả của việc dùng thuốc, bà Hồ đã qua đời vào sáng ngày 12 tháng 11, sau khi vật lộn suốt cả đêm. Khi thi thể bà được khiêng đi thì để lại một vũng máu rộng hơn 20 cm.”
Trường hợp 4: Bà Khương Khiết Ngọc qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ Nam Mộc Tự
Bà Khương Khiết Ngọc, ngoài 50 tuổi, cư dân huyện Bì, đã bị bắt giữ vào ngày 24 tháng 2 năm 2000 khi đến Bắc Kinh để thỉnh nguyện cho quyền tu luyện Pháp Luân Công. Bà bị giam giữ tại Trung tâm Tẩy não Huyện Bì trong khoảng thời gian chưa xác định. Bà bị bắt giữ lần nữa vào ngày 17 tháng 2 năm 2001, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não huyện Bì. Tháng 11 năm 2001, bà trở lại Bắc Kinh để thỉnh nguyện, và bị kết án 1,5 năm tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ Nam Mộc Tự. Tại đó, bà bị tra tấn và tiêm các loại thuốc phá hủy thần kinh. Bà được trả tự do khi đang hấp hối và qua đời vào nửa cuối năm 2003.
Trường hợp 5: Bà Mông Tiêu qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc nhiều lần tại Trung tâm Tẩy não Đường Xương và Bệnh viện Quân y 201
Bà Mông Tiêu (ảnh chụp trong thời gian thực tập tại Bắc Kinh)
Bà Mông Tiêu, khi đó 37 tuổi, ở thành phố Nam Sung, đã bị bắt giữ và kết án 2 năm tù sau khi giương biểu ngữ Pháp Luân Công tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 17 tháng 11 năm 1999. Trong thời gian bị giam giữ ở Bắc Kinh, bà bị đánh đập, sốc điện bằng dùi cui điện và bị trói, cùng nhiều hình thức tra tấn khác.
Ngày 12 tháng 4 năm 2000, bà Mông bị đưa tới Nhà tù Nữ tỉnh Tứ Xuyên ở thành phố Giản Dương. Bà nhiều lần bị biệt giam, đánh đập, kéo lên xuống cầu thang và sốc điện bằng dùi cui điện. Bà còn bị còng tay ra sau lưng nhiều lần, bao gồm cả việc bị phơi lạnh dưới cửa sổ trong mùa đông giá rét suốt nhiều ngày mà chỉ mặc một lớp áo mỏng.
Minh họa tra tấn: Còng tay ra sau lưng
Sau khi được trả tự do vào tháng 11 năm 2001, bà Mông đã đăng một bài viết về những trải nghiệm đau thương của mình trên trang Minghui vào ngày 21 tháng 1 năm 2002. Sau khi phát hiện ra sự việc này, Bộ Công an – thông qua chính quyền tỉnh Tứ Xuyên – đã ra lệnh cho nơi làm việc của bà phải giám sát bà nghiêm ngặt. Điều này khiến bà Mông bị giam giữ tại Nhà máy Thép Thành Đô trong một khoảng thời gian, và không được phép về nhà vào ban đêm.
Ngày 24 tháng 4 năm 2002, bà Mông bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Đường Xương. Bà bị đánh và đá dã man đến mức không thể đứng dậy được do chấn thương cột sống và xương cụt. Sau khi rơi vào tình trạng nguy kịch, bà Mông được đưa trở lại nơi làm việc, tại đó bà bị cưỡng bức tiêm các loại thuốc phá hủy thần kinh.
Mặc dù gần như bị liệt, bà Mông vẫn có thể đọc sách Pháp Luân Công và luyện công, và cuối cùng đã có thể đứng dậy mà không cần dùng thuốc. Sau đó, bà buộc phải sống lưu lạc để tránh bị bức hại thêm.
Ngày 19 tháng 11 năm 2003, cảnh sát đã bắt giữ bà Mông, và lính canh trại tạm giam thường xuyên đưa bà đến Bệnh viện Quân y 201 để tiêm định kỳ các loại thuốc phá hủy thần kinh, gồm diazepam và chlorpromazine.
Sau khi bà Mông giải thích cho các bác sỹ biết Pháp Luân Công là gì, họ đã ngừng tiêm thuốc cho bà. Sau đó, bà bị đưa đến Bệnh viện Số 1 Kim Đường để tiếp tục cưỡng bức tiêm thuốc.
Gia đình bà Mông yêu cầu trả tự do cho bà, nhưng một đặc vụ Phòng 610 Thành Đô đã từ chối. Anh ta nói: “Chúng tôi sẽ không thả bà ấy ngay cả khi bà ta chết ở đây.”
Bà Mông qua đời tại bệnh viện trong khoảng thời gian từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 1 năm 2004. Thi thể bà bị hỏa táng ngay lập tức mà không thông báo cho gia đình.
Trường hợp 6: Ông Quách Cử Đình qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Trại tạm giam Linh Tuyền Tự
Ngày 17 tháng 3 năm 2001, ông Quách Cử Đình, ở thành phố Toại Ninh, bị bắt vì nói chuyện với các quan chức chính quyền thị trấn Thiên Phủ về Pháp Luân Công. Ông bị quất bằng thắt lưng da và bị kết án lao động cưỡng bức với thời hạn không xác định. Ông được thả vào ngày 30 tháng 12 năm 2002.
Ngày 13 tháng 11 năm 2003, ông Quách lại bị bắt và bị lục soát nhà. Trong khi bị giam tại Trại tạm giam Linh Tuyền Tự, ông đã tuyệt thực để phản đối, và bị bức thực cũng như tiêm thuốc độc. Ông được thả vào ngày 3 tháng 12 năm 2004, nhưng đã qua đời vào ngày 24 tháng 1 năm 2005. Khi đó ông 69 tuổi.
Trường hợp 7: Bà Lý Hiến Dân qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Trại tạm giam huyện Xạ Hồng, thi thể bị cưỡng chế giải phẫu
Ngày 1 tháng 2 năm 2005, bà Lý Hiến Dân, cựu nhân viên Phòng An sinh Xã hội huyện Xạ Hồng, bị bắt. Sáng ngày 6 tháng 4 năm 2005, bà có triệu chứng cảm lạnh, và Trại tạm giam huyện Xạ Hồng đã để một tù nhân là bác sỹ thú y truyền dịch cho bà vào khoảng 2 giờ chiều. Bà bắt đầu nôn mửa và đi ngoài lỏng ngay sau đó.
Lúc 7 giờ tối, lính canh đưa bà Lý đến bệnh viện, nhưng từ chối đề nghị cho bà nhập viện của bác sỹ. Bà bị đưa trở lại trại tạm giam lúc 9 giờ tối, và bị cho dùng thêm các loại thuốc không rõ chủng loại. Bà càng trở nên lạnh hơn và mắt lồi ra. Bà Lý qua đời lúc 1 giờ sáng ngày 7 tháng 4 năm 2005. Khi đó bà 51 tuổi.
Không có sự đồng ý của gia đình, chính quyền đã giải phẫu xác bà Lý tại nhà tang lễ. Ruột của bà bị đặt trên mặt đất, và một số nội tạng của bà đã bị Lương Hải, trưởng khoa Giải phẫu bệnh của Bệnh viện Nhân dân Toại Ninh, lấy đi.
Trường hợp 8: Ông Lý Gia Bân qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Bệnh viện Số 1 huyện Song Lưu
Ông Lý Gia Bân
Ông Lý Gia Bân, ở huyện Song Lưu, bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Thị trấn Chính Hưng vào ngày 14 tháng 6 năm 2004, sau đó chuyển đến Trại tạm giam huyện Song Lưu vào ngày 18 tháng 8. Sau 4 tháng bị giam giữ, ông bị đưa đến Bệnh viện Số 1 huyện Song Lưu. Các bác sỹ xích tứ chi ông vào giường, và tiêm cho ông những loại thuốc không rõ chủng loại mỗi ngày. Chỉ trong 2 tuần, ông bị mất kiểm soát; cơ thể sưng tấy và bầm tím; da bị chảy máu và rỉ mủ. Ông Lý được thả vào khoảng ngày 9 tháng 2 năm 2005, và qua đời vào ngày 16 tháng 5 năm 2005. Khi đó ông ngoài 50 tuổi.
Trường hợp 9: Bà Lâm Phượng qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ Long Tuyền Dịch
Bà Lâm Phượng
Ngày 11 tháng 2 năm 2002, bà Lâm Phượng, ở thành phố Nam Sung, bị bắt vì phân phát tài liệu thông tin về Pháp Luân Công. Tháng 2 năm 2003, bà bị đưa đến Trại Lao động Cưỡng bức Nữ Long Tuyền Dịch để thụ án 3 năm. Vì vẫn kiên định đức tin, bà Lâm đã bị cưỡng chế tiêm các loại thuốc không rõ chủng loại, dẫn đến suy thận, hôn mê và sưng tấy toàn thân. Trại lao động đã trả bà về nhà vào ngày 18 tháng 5 năm 2005, khi bà đang hấp hối.
Bà Lâm hầu như rơi vào trạng thái bất tỉnh. Khi thỉnh thoảng tỉnh táo, bà nói: “Tôi không bị bệnh. Tôi ra nông nỗi này là do bị tra tấn.” Gia đình đưa bà đến bệnh viện, và được thông báo tình trạng nguy kịch nhiều lần. Bà Lâm qua đời vào sáng ngày 26 tháng 7 năm 2005, ở tuổi 36.
Trường hợp 10: Bà Lý Gia Duy qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Bệnh viện Chữ thập đỏ
Bà Lý Gia Duy, nhân viên về hưu của Công ty Đất sét huyện Cổ Lận, bị bắt năm 2005 vì nói chuyện với mọi người về Pháp Luân Công. Bà bị tiêm thuốc không rõ nguồn gốc tại Bệnh viện Chữ thập đỏ. Chân bà xuất hiện các vết loét nhiễm trùng ngay sau đó. Bà qua đời vào tháng 11 năm 2005. Khi đó bà 52 tuổi.
Trường hợp 11: Bà Triệu Trung Linh qua đời tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Bà Triệu Trung Linh
Năm 1999, bà Triệu Trung Linh, cựu nhân viên Nhà máy Động cơ điện Cẩm Giang ở thành phố Thành Đô, bị kết án 2 năm tại Trại Lao động Cưỡng bức Nam Mộc Tự vì thỉnh nguyện cho Pháp Luân Công. Bà bị tra tấn và ép uống các loại thuốc không rõ chủng loại. Vào thời điểm được thả, bà gầy gò và lưng còng.
Năm 2003, bà Triệu lại bị bắt vì nâng cao nhận thức về cuộc bức hại, và bị kết án 3 năm. Sau khi mãn hạn tù, chính quyền không thả bà mà đưa bà đến Trung tâm Tẩy não Tân Tân, và sau đó là Bệnh viện quận Thanh Dương.
Ngay sau khi trở về nhà, bà Triệu lại bị bắt vào ngày 15 tháng 11 năm 2006 vì phân phát tài liệu Pháp Luân Công. Bà bị giam tại Trại tạm giam Thành phố Thành Đô, nơi bà bị tra tấn tàn bạo. Bà được thả trong tình trạng hấp hối vào cuối tháng 12 năm 2006.
Ngày 23 tháng 3 năm 2007, bà Triệu bị bắt giam trở lại Trại tạm giam Thành phố Thành Đô. Bà tuyệt thực để phản đối, và bị đưa đến Bệnh viện quận Thanh Dương. Ngày 2 tháng 4 năm 2007, bà bị cưỡng chế tiêm thuốc không rõ chủng loại. Ngày 23 tháng 4, 2 cảnh sát và 1 bác sỹ đến nhà bà Triệu, thông báo cho gia đình biết bà đang yếu và nằm viện. Khi chị gái đến thăm bà vào ngày 4 tháng 5, bà đã mất khả năng nói. Bà Triệu qua đời tại bệnh viện vào rạng sáng ngày 5 tháng 5 năm 2007. Khi đó bà 44 tuổi.
Trường hợp 12: Bà Hoàng Mẫn qua đời tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Bà Hoàng Mẫn
Bà Hoàng Mẫn, nguyên Phó trưởng phòng Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ thành phố Thành Đô, bị bắt vào ngày 3 tháng 3 năm 2007 và bị đưa đến Trại tạm giam Thành phố Thành Đô. Đầu tháng 6 năm 2007, gia đình bà nhận được cuộc gọi từ Tòa án quận Thanh Dương, thông báo bà đang trong tình trạng nguy kịch. Khi gia đình yêu cầu gặp bà, cảnh sát buộc họ phải ký vào giấy bắt giữ bà trước.
Theo lời chị gái bà Hoàng, bà bị giam trong một phòng riêng và bị 2 tù nhân giám sát suốt ngày đêm. Nhiều lính canh trại tạm giam và camera giám sát được bố trí bên ngoài phòng giam.
Bà Hoàng phải đeo cùm rất nặng; móng tay rất dài và bốc mùi hôi, vì bà không được phép tắm rửa từ khi bị bắt nhiều tháng trước đó; phần thân dưới của bà trần trụi và được che bằng một tấm ga trải giường; tấm ga bên dưới bà đã bị vấy bẩn.
Cuối tháng 6 năm 2007, gia đình bà Hoàng được Tòa án Quận Thanh Dương thông báo rằng bà đã bị kết án 6 năm tù.
Ngày 15 tháng 8 năm 2007, gia đình nhận được một cuộc gọi khác từ bệnh viện, thông báo rằng bà Hoàng đã qua đời lúc 7 giờ 30 phút sáng hôm đó. Khi họ nhìn thấy thi thể bà, nét mặt bà lộ rõ vẻ đau đớn tột cùng; mắt bà mở hé; đầu nghiêng sang phải; miệng há to và mất một răng hàm dưới; chất lỏng màu vàng có mùi thuốc nồng nặc dính đầy miệng và răng; hai tay bà nắm chặt; và có một số vết bầm tím trên cánh tay. Thi thể bà bị hỏa táng vào cuối ngày hôm đó. Bà Hoàng hưởng dương 53 tuổi.
Trường hợp 13: Bà Chu Huệ Mẫn qua đời tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Bà Chu Huệ Mẫn, ở thành phố Giản Dương, bị bắt 6 lần trong khoảng thời gian từ ngày 5 tháng 12 năm 1999 đến ngày 8 tháng 7 năm 2003. Bà bị giam tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ Nam Mộc Tự, Bệnh viện quận Thanh Dương ở thành phố Thành Đô, Bệnh viện Y học Cổ truyền Thành phố Giản Dương, và Bệnh viện Trung tâm Lâm nghiệp Thành phố Đô Giang Yển. Trong khi bị giam giữ, bà Chu bị đánh đập, sốc điện bằng dùi cui điện, treo lên, bức thực và ép truyền dịch, chủ yếu là thuốc ngủ.
Bà Chu diễn lại cảnh tra tấn mà bà phải chịu đựng tại Bệnh viện quận Thanh Dương
Ngày 26 tháng 9 năm 2007, bà Chu lại bị bắt và bị giam tại Trung tâm Tẩy não Tân Tân và Trại tạm giam Thành phố Thành Đô. Bà bắt đầu tuyệt thực từ ngày 1 tháng 2 năm 2008, và bị đưa đến Bệnh viện quận Thanh Dương 4 ngày sau đó. Ngày 10 tháng 3, anh trai bà liên hệ với Phòng An ninh Nội địa Vũ Hầu ở Thành Đô, và được thông báo rằng bà Chu đang hấp hối, nhưng chính quyền cho biết họ sẽ không thả bà ngay cả khi bà chết trong bệnh viện. Bà qua đời tại bệnh viện lúc 5 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 3 năm 2008. Khi đó bà 45 tuổi.
Trường hợp 14: Bà Lưu Quốc Thục bị mê sảng sau khi bị tiêm thuốc độc tại nhà, qua đời sau khi bị ngã
Tối ngày 11 tháng 7 năm 2008, khi bà Lưu Quốc Thục, ở thành phố Vạn Nguyên, đang ở nhà một mình, thì cảnh sát đột nhập vào. 4 cảnh sát đè bà xuống đất và tiêm một loại thuốc không rõ chủng loại. Sau đó, họ gọi cho em gái bà, bà Lưu Quốc Cúc, và bảo bà đưa bà Lưu Quốc Thục về nhà mình.
Tối ngày 14 tháng 7 năm 2008, khi bà Lưu Quốc Cúc gặp chị gái thì bà Thục đã rơi vào trạng thái mê sảng với biểu cảm đau đớn. Sáng sớm ngày 17 tháng 7 năm 2008, bà Lưu Quốc Thục bị ngã khi cố gắng trèo từ phía nhà mình sang nhà hàng xóm. Bà đã ngừng thở trên đường đến bệnh viện. Khi đó bà 46 tuổi.
Trường hợp 15: Phổi ông Toàn Học Ngân bị nhiễm trùng sau khi bị tiêm thuốc độc, sau đó qua đời
Tháng 4 năm 2000, ông Toàn Học Ngân, ở huyện Bồng Khê, bị bắt tại Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, khi ông thỉnh nguyện cho quyền tu luyện Pháp Luân Công. Ông bị đưa về huyện Bồng Khê và bị kết án 1 năm tù. Ông đã tuyệt thực nhiều lần và bị bức thực. Năm 2001, ông Toàn trở lại Bắc Kinh để thỉnh nguyện một lần nữa, nhưng bị bắt và kết án 2 năm tù. Do bị tra tấn trong khi giam giữ nên ông trở nên rất yếu, và không thể làm việc đồng áng sau khi được thả. Ông kiếm sống bằng nghề bán nước tương và giấm.
Ngày 28 tháng 11 năm 2004, ông Toàn lại bị bắt và bị kết án thêm 3 năm tù. Người ông đầy vết thương do cảnh sát đánh đập. Trước khi mãn hạn tù, cảnh sát đã cưỡng chế lấy mẫu máu và tiêm cho ông một loại thuốc độc. Phổi của ông bị tổn thương nghiêm trọng và bị nhiễm trùng. Ông Toàn qua đời vào ngày 8 tháng 3 năm 2009, ở tuổi 39.
Trường hợp 16: Ông Tạ Đức Thanh qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Trung tâm Tẩy não Tân Tân
Ông Tạ Đức Thanh
Ông Tạ Đức Thanh, 69 tuổi, nhân viên về hưu của Viện Nghiên cứu Khảo sát và Thiết kế Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, bị bắt vào ngày 29 tháng 4 năm 2009, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Tân Tân. Chỉ trong hơn 20 ngày, ông Tạ, người vốn có sức khỏe tốt và cường tráng, đã bị tra tấn đến mức hấp hối. Ông gầy gò ốm yếu, tiểu tiện không tự chủ, khó nuốt và bị đau thắt ngực nghiêm trọng.
Trong 4 ngày sau khi được thả, ông Tạ gần như luôn bị bất tỉnh. Ông ôm ngực, trằn trọc và rên rỉ vì đau đớn, như thể nội tạng đang bị giày vò. Trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi khi tỉnh táo, ông nói với gia đình rằng lính canh trung tâm tẩy não đã đưa ông đến bệnh viện và tiêm cho ông các loại thuốc không rõ chủng loại, khiến ông không thể ăn uống gì trong gần 10 ngày. Ông Tạ qua đời vào tối ngày 27 tháng 5 năm 2009. Bàn tay ông chuyển sang màu đen, và cơ thể dần chuyển sang màu đen, một dấu hiệu của ngộ độc thuốc.
Ông Tạ Đức Thanh sau khi được thả khỏi Trung tâm Tẩy não Tân Tân
Trường hợp 17: Ông Tiêu Hồng Mô qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Nhà tù Đức Dương
Ông Tiêu Hồng Mô
Ông Tiêu Hồng Mô, cựu công nhân của Đội Khảo sát 405 ở Nhược Nhĩ Cái, Châu A Bá, bị bắt vào giữa đêm ngày 18 tháng 1 năm 2001, và bị kết án 5 năm tù. Ngày 18 tháng 4 năm 2008, ông lại bị bắt vì nói chuyện với mọi người về Pháp Luân Công. Ông bị kết án thêm 5 năm tù nữa, và bị đưa đến Nhà tù Đức Dương. Vì ông kiên định tu luyện Pháp Luân Công, vào ngày 15 tháng 7 năm 2009 lính canh nhà tù đã tiêm thuốc không rõ chủng loại cho ông. Ông rơi vào trạng thái hôn mê và đại tiểu tiện không tự chủ.
Trong khi ông Tiêu đang được điều trị tại Bệnh viện Thành phố Đức Dương từ ngày 25 đến 26 tháng 7 năm 2009, nhà tù đã nói dối gia đình ông rằng ông bị u não. Mẹ ông không được phép vào thăm. Ngày 27 tháng 7 năm 2009, ông Tiêu được chuyển đến Chi nhánh Thành Đô của Bệnh viện Tổng hợp Cảnh sát Tư pháp Tỉnh Tứ Xuyên, và qua đời tại đó vào giữa tháng 3 năm 2010. Khi đó ông 47 tuổi.
Trường hợp 18: Ông Lưu Quang Đệ qua đời sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc tại Trại Lao động Cưỡng bức Tây Sơn Bình
Ông Lưu Quang Đệ
Ông Lưu Quang Đệ, kỹ sư cao cấp và nguyên Giám đốc Phòng Điện lực của Công ty Đầu tư Năng lượng Tứ Xuyên, bị bắt vào tháng 4 năm 2008 vì phân phát tài liệu thông tin Pháp Luân Công. Ông bị kết án 1 năm tại Trại Lao động Cưỡng bức Tây Sơn Bình ở Trùng Khánh. Do bị ngược đãi và lao động khổ sai, ông Lưu bị viêm màng phổi kèm tràn dịch màng phổi. Trước sự phản đối mạnh mẽ của gia đình, trại lao động đưa ông đến bệnh viện. Vì ông Lưu vẫn kiên định tu luyện Pháp Luân Công, lính canh đã bức thực ông bằng một lượng lớn thuốc độc. Ông rơi vào tình trạng nguy kịch khi được thả vào ngày 10 tháng 4 năm 2009. Ông qua đời vào ngày 25 tháng 9 năm 2010, khi đó ông ngoài 60 tuổi.
Trường hợp 19: Bà Hồ Quế Phương qua đời sau khi bị giam giữ tại Nhà tù Nữ tỉnh Tứ Xuyên
Bà Hồ Quế Phương, ở thành phố Giản Dương, bị bắt vào đầu tháng 3 năm 2005 vì nói chuyện với mọi người về Pháp Luân Công, và bị bí mật kết án 5 năm tù. Trong thời gian thụ án tại Nhà tù Nữ tỉnh Tứ Xuyên, lính canh đã trộn thuốc không rõ chủng loại vào thức ăn của bà. Bị đầu độc trong thời gian dài khiến bà dần mất thị lực và mắc chứng tiểu tiện không tự chủ. Bà Hồ qua đời vào tháng 12 năm 2010, ở tuổi 65.
Trường hợp 20: Ông Trần Thế Minh qua đời sau khi được thả khỏi Trung tâm Tẩy não Mi Sơn
Ông Trần Sỹ Minh
Ông Trần Sỹ Minh, ở thành phố Mi Sơn, bị bắt lần thứ 5 vào ngày 20 tháng 7 năm 2010. Ông bị 8 cảnh sát đánh đập, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Mi Sơn. Tại đó, ông bị tiêm thuốc không rõ chủng loại, và lính canh cũng trộn thuốc vào thức ăn và nước uống của ông. Họ không thả ông Trần cho đến khi ông hấp hối. Ông qua đời vào ngày 10 tháng 4 năm 2011, chưa đầy 6 tháng sau khi được thả.
Trường hợp 21: Bà Viên Vĩnh Văn qua đời sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc tại Nhà tù Nữ tỉnh Tứ Xuyên
Bà Viên Vĩnh Văn, nhân viên về hưu của Nhà máy Động cơ điện Thành phố Cung Lai, bị bắt vào ngày 26 tháng 3 năm 2008 vì nói chuyện với mọi người về Pháp Luân Công tại một khu chợ nông sản. Bà bị Tòa án Thành phố Cung Lai kết án 3 năm tù vào giữa tháng 10 năm 2008, và bị đưa đến Nhà tù Nữ tỉnh Tứ Xuyên.
Lính canh nhà tù ép bà Viên uống các loại thuốc không rõ chủng loại, khiến bà bị rối loạn tâm thần, thường xuyên đi vệ sinh ra quần. Lính canh cũng xúi giục tù nhân đánh đập bà, khiến bà bị gãy xương cụt. Bà trở nên tàn phế, và được chuyển đến bệnh viện cảnh sát ở Thành Đô.
Khi gia đình bà Viên đến thăm bà tại bệnh viện vào ngày 20 tháng 4 năm 2010, bà gầy gò ốm yếu; cơ thể cứng đờ; phải đặt ống thông tiểu; và nói năng không rõ ràng. Khi gia đình chạm vào người, bà Viên hét lên: “Đừng đánh tôi!” Gia đình cũng nhận thấy nhiều vết kim tiêm trên tay phải của bà.
Bà Viên Vĩnh Văn trở nên gầy gò do cuộc bức hại
Không muốn bà chết trong tù, cảnh sát đã đưa bà Viên về nhà vào ngày hôm sau, nói rằng bà có thể chỉ còn sống được vài giờ. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của gia đình, bà Viên cuối cùng đã có thể ăn được thức ăn lỏng nhẹ. Tuy nhiên, bà vẫn nằm liệt giường và cuối cùng qua đời vào ngày 7 tháng 5 năm 2011. Khi đó bà 69 tuổi.
Trường hợp 22: Ông Ngô Nghĩa Hoa qua đời do bị cưỡng chế dùng thuốc tại Trung tâm Tẩy não Nhị Nga Hồ
Ông Ngô Nghĩa Hoa, một bác sỹ ở thành phố Tư Dương, bị bắt tại phòng khám của mình vào ngày 12 tháng 10 năm 2010, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Nhị Nga Hồ.
Vì ông Ngô vẫn kiên định tu luyện Pháp Luân Công, Tiêu Huy, người đứng đầu trung tâm tẩy não, đã phối hợp với Hoàng Quang Vũ thuộc Phòng An ninh Nội địa Thành phố Tư Dương để tra tấn ông Ngô trong nhiều ngày. Họ cũng trộn các loại thuốc phá hủy thần kinh và nội tạng vào nước uống của ông.
Khi được thả vào tháng 3 năm 2011, ông Ngô hoàn toàn không còn nhận ra được. Vài ngày sau, ông ngất xỉu và được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Vì không đủ tiền chạy thận nhân tạo hàng ngày, ông Ngô đã trở về nhà. Trong vài tháng tiếp theo, ông thường cảm thấy cồn cào trong bụng và tức ngực. Ông trở nên gầy gò và hốc hác. Mặt và môi ông chuyển sang màu thâm đen, và ông thường xuyên bị mất ý thức. Ông Ngô qua đời vào ngày 12 tháng 12 năm 2011, hưởng dương 48 tuổi.
Trường hợp 23. Ông La Giang Bình qua đời sau khi bị tiêm thuốc độc tại Nhà tù Số 1 tỉnh Vân Nam
Ông La Giang Bình và gia đình
Ông La Giang Bình, ở thành phố Phân Chi Hoa, bị bắt vào ngày 6 tháng 1 năm 2012 vì phân phát tài liệu Pháp Luân Công. Tháng 4 năm 2012, ông bị kết án 4,5 năm tù giam, và bị đưa đến Nhà tù Số 1 Vân Nam vào ngày 1 tháng 6 năm 2012. Vì ông La không từ bỏ Pháp Luân Công, lính canh và các tù nhân đã còng tay, đánh đập và tiêm cho ông những loại thuốc không rõ chủng loại. Ông cũng bị ép phải làm việc hơn 10 tiếng mỗi ngày. Nếu không hoàn thành định mức công việc, ông sẽ bị cấm ngủ hoặc bị biệt giam.
Trong những lần bị bức thực liên tục, cơ miệng của ông La bị tổn thương, và toàn bộ răng hàm dưới bị đánh gãy. Răng hàm trên chỉ còn lại rất ít và tất cả đều bị lung lay. Ông cũng bị chướng bụng và đau đớn dữ dội trong nội tạng. Ông bị đại tiểu tiện không tự chủ và chân sưng phù. Ông trở nên yếu ớt, gầy gò và gặp khó khăn khi đứng, ngồi, nói chuyện hay thậm chí là ngẩng đầu lên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2013, ông La được bảo lãnh tại ngoại do sức khỏe yếu. Trên cả hai cánh tay ông vẫn còn thấy rõ các vết kim tiêm. Xung quanh mỗi vết tiêm đều có vết bầm tím đường kính khoảng 2cm. Ông qua đời 5 ngày sau đó, vào ngày 28 tháng 12 năm 2013. Ông hưởng dương 51 tuổi.
Ông La ngay trước khi qua đời
Trường hợp 24. Ông Tiêu Chương Hòa qua đời sau khi uống trà độc
Ông Tiêu Chương Hòa, 60 tuổi, ở thành phố Đô Giang Yển, bị bắt vào ngày 21 tháng 10 năm 2013, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Thị trấn Thiên Mã. Ngày hôm sau, cảnh sát đưa ông đến Văn phòng Quản lý Tổng hợp của chính quyền thị trấn. Theo lời kể của ông, cảnh sát đã mang bữa trưa cho ông. Vào buổi chiều, một nữ nhân viên đến và pha trà cho ông. Cô ta giục ông uống thêm trà trong lúc họ nói chuyện.
Đến 5 giờ chiều, ông Tiêu đột nhiên không thể nói chuyện hay tập trung tinh thần. Trong trạng thái suy kiệt này, cảnh sát yêu cầu ông viết các tuyên bố từ bỏ Pháp Luân Công, và ông đã làm theo một cách vô thức. 2 ngày sau, cảnh sát tiếp tục đưa trà cho ông và ông Tiêu lại gặp phải các triệu chứng tương tự. Trong tình trạng đó, ông đã ký thêm nhiều tuyên bố khác theo lệnh của cảnh sát.
Sau khi ký tất cả những gì cảnh sát muốn, ông Tiêu được phép về nhà. Khi hồi phục, ông đã quay lại các văn phòng chính quyền và tuyên bố những giấy tờ ông đã ký là vô hiệu. Ông cũng chất vấn về loại thuốc mà cảnh sát đã cho ông uống. Cảnh sát phủ nhận việc cho ông dùng bất kỳ loại thuốc nào.
Một tuần sau, ông Tiêu bị đau họng và khàn giọng. Các mảng đỏ lớn xuất hiện khắp cơ thể ông. Bệnh viện thành phố không thể chẩn đoán được tình trạng của ông, nên gia đình đã đưa ông đến Bệnh viện Hoa Tây, bệnh viện hiện đại nhất tỉnh Tứ Xuyên.
Ban đầu, bệnh viện chẩn đoán ông Tiêu bị ngộ độc thuốc. Tuy nhiên sau đó, chẩn đoán đã thay đổi khi gia đình nói với bệnh viện rằng ông Tiêu là một học viên Pháp Luân Công. Trong một sự thay đổi gây sốc, chẩn đoán ban đầu đã bị đổi thành “sỏi mật”.
Bệnh viện tuyên bố việc điều trị cần phải phẫu thuật và rất khó chữa. Họ cũng nói rằng ông Tiêu có thể sẽ chết trong hoặc sau ca phẫu thuật.
Các mảng đỏ trên cơ thể ông Tiêu lan rộng, và ông qua đời vào ngày 22 tháng 5 năm 2014.
Trường hợp 25. Ông Trương Thế Tường qua đời sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc tại Nhà tù Gia Châu
Ông Trương Thế Tường, ở thành phố Giản Dương, bị bắt vào ngày 4 tháng 11 năm 2008. Khi bị giam tại Trại tạm giam thành phố Giản Dương, ông bị ép phải đeo xiềng xích nặng, gây thương tích nghiêm trọng ở mắt cá chân. Ngày 4 tháng 12, ông bị chuyển đến Trung tâm Tẩy não Nhị Nga Hồ.
Ngày 8 tháng 12 năm 2009, ông Trương bị Tòa án thành phố Giản Dương kết án 6 năm tù. Ông bị cho dùng các loại thuốc không rõ chủng loại tại Nhà tù Gia Châu, và bác sỹ nhà tù đe dọa rằng ông sẽ chết ở đó nếu không từ bỏ Pháp Luân Công.
Ngày 3 tháng 11 năm 2014, ông Trương được thả khi đang trong tình trạng hấp hối. Cơ thể và chân của ông bị sưng phù nghiêm trọng và chảy máu. Ông qua đời vào ngày 4 tháng 12 năm 2014, 1 tháng sau khi được thả. Ông hưởng thọ 66 tuổi.
Trường hợp 26. Bà Tạ Hà qua đời sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc tại Trung tâm Tẩy não Tân Tân
Bà Tạ Hà khi còn trẻ
Bà Tạ Hà sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc trong trại giam
Bà Tạ Hà, cựu giáo viên piano tại thành phố Phân Chi Hoa, từng bị phạt 1 năm lao động cưỡng bức vào năm 2000, và bị kết án 3 năm tù vào năm 2006. Ngày 28 tháng 5 năm 2013, bà bị bắt khi đang thăm mẹ trong bệnh viện, và bị đưa đến Trung tâm Tẩy não Tân Tân ở Thành Đô 2 ngày sau đó.
Khi bà Tạ được thả vào đầu tháng 8 năm 2013, chân bà bị sưng và bụng dưới chướng to. Bà kể với gia đình rằng lính canh trung tâm tẩy não đã trộn thuốc lạ vào thức ăn và tiêm thuốc lạ cho bà. Chỉ khi bà rơi vào tình trạng nguy kịch thì lính canh mới thả bà. Bà biết một học viên bị tiêm thuốc độc tại trung tâm tẩy não đã qua đời ngay sau khi được thả.
Trong vài năm tiếp theo, bà Tạ phải vật lộn với sức khỏe ngày càng suy kiệt. Bà trở nên gầy mòn và bụng dưới vẫn chướng to. Bà qua đời vào nửa cuối năm 2016. Khi đó, khuôn mặt bà xanh xao và cơ thể xuất hiện các vết bầm tím. Bà hưởng dương 56 tuổi.
Trường hợp 27. Bị tàn tật sau khi dùng thuốc độc tại Bệnh viện quận Thanh Dương, bà Phòng Huệ qua đời 16 năm sau đó
Bà Phòng Huệ là giảng viên Trường Ngoại ngữ thuộc Đại học Tứ Xuyên tại thành phố Thành Đô. Bà từng đạp xe dọc theo Quốc lộ Thanh Hải-Tây Tạng đến Lhasa và được vinh danh là 1 trong “10 thanh niên dũng cảm nhất”. Bà là thành viên của đội leo núi của Đại học Tứ Xuyên.
Bà Phòng bị bắt vào đêm ngày 5 tháng 11 năm 2002. Cảnh sát đã dành gần 1 giờ để lục soát nhà bà. Ngay sau đó, bà bị kết án 3,5 năm tù và bị đuổi việc.
Năm 2004, bà Phòng lại bị bắt và bị giam tại Trại tạm giam Số 1 Thành Đô. Do bị tra tấn, bà trở nên rất yếu. Sau đó, bà bị đưa đến Bệnh viện quận Thanh Dương ở Thành Đô, và bị tiêm thuốc đến mức tàn phế. Khi được thả, bà bị phù nề toàn thân; da cứng đờ; mắt khó mở; nói lắp bắp; thường xuyên đau đầu dữ dội; không nhấc nổi chân; và dễ ngã khi đi lại.
Gia đình đã đưa bà đến phòng khám ngoại trú của một bệnh viện lớn, và bác sỹ cho biết hệ thần kinh trung ương của bà đã bị tổn thương. Gia đình hỏi làm sao có thể như vậy, nhưng bác sỹ không tiết lộ thêm gì.
Bà Phòng gần như mất khả năng nói và nằm liệt giường trong nhiều năm. Bà qua đời vào tháng 3 năm 2019.
Trường hợp 28. Ông Trần Lễ Thanh qua đời sau khi bị cưỡng chế dùng thuốc tại Nhà tù Đức Dương
Ông Trần Lễ Thanh
Ông Trần Lễ Thanh, ở thành phố Bành Châu, bị bắt vào tháng 3 năm 2004, và bị đánh đập tàn bạo trong suốt 4 ngày. Ngày 3 tháng 12 năm 2004, ông bị kết án 3 năm tù, sau đó bị đưa đến Nhà tù Đức Dương vào tháng 2 năm 2005.
Ông Trần từ chối viết tuyên bố từ bỏ Pháp Luân Công, và bị lính canh nhà tù đánh đập. Có lần, lính canh đã đá vào đùi trong và háng của ông. Lần khác, ông bị xuất huyết nội sau khi bị đánh và phải đi cấp cứu. Sau đó ông phải nằm liệt giường hơn 20 ngày.
Trong một dịp khác, lính canh nhà tù đã chỉ đạo tù nhân trộn thuốc vào thức ăn và đồ uống của ông Trần. 4 tháng trước khi mãn hạn tù, lính canh đã tiêm thuốc độc cho ông, khiến ông xuất hiện triệu chứng tâm thần tạm thời. Ông cũng đổ mồ hôi đầm đìa mỗi ngày.
Sau khi ông Trần được thả, cảnh sát địa phương thường xuyên đến nhà sách nhiễu ông. Vào tháng 9 năm 2021, văn phòng cộng đồng địa phương yêu cầu ông từ bỏ Pháp Luân Công, nhưng ông kiên quyết từ chối.
Phòng an sinh xã hội địa phương cũng đã cắt lương hưu của ông Trần sau khi ông bị kết án vào tháng 9 năm 2004. Họ không bao giờ khôi phục lương hưu cho ông. Vì không có thu nhập, cuộc sống của ông Trần càng thêm khó khăn sau khi ra tù. Ông qua đời vào ngày 31 tháng 1 năm 2022.
Bản quyền © 1999-2025 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/12/18/503761.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2025/12/22/231796.html
























